Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/5/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Ba

Ông Ngô Rạng Đông

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Toản - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1992.

Nơi thường trú: Ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Thái Phước H, sinh năm 1993. (Vắng mặt)

Nơi thường trú: Số nhà H đường N, Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ tạm trú: Ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày:

Vào năm 2010, chị Nguyễn Thị O và anh Thái Phước H có quen biết tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau chung sống như vợ chồng. Đến năm 2019 thì cả hai có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 18/7/2019.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng chị cùng sống chung nhà với cha mẹ ruột của chị tại tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn. Chị và anh H thường xuyên cãi vã nhau về vấn đề tình cảm vợ chồng, do anh H có quen người phụ nữ khác ở bên ngoài dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Đồng thời, anh H không có trách nhiệm cùng chị chăm lo cho cuộc sống gia đình và không chăm sóc, dạy dỗ các con chung cùng chị. Ngoài ra, anh H còn đến nơi làm việc của chị O để hạ thấp danh dự của chị O tại nơi làm việc. Chị và anh H đã sống ly thân nhau từ khoảng năm 2021 cho đến nay. Chị O hiện đang sống với cha mẹ ruột tại địa chỉ thuộc tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Còn anh H thì thuê phòng trọ và sống ở nhà T, cũng tại địa chỉ tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Sau khi chị O nộp đơn xin ly hôn với anh H tại Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, anh H chuyển về sinh sống với gia đình của anh H tại địa chỉ số nhà H đường N, Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Nay chị O xác định chị không còn tình cảm vợ chồng với anh H, không muốn đoàn tụ hay hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh H, do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin được ly hôn với anh H để mỗi người có cuộc sống tự do riêng.

Về con chung: Chị O xác định, vợ chồng có với nhau hai người con chung tên: Thái Ngọc T, sinh ngày 11/10/2011 và Thái Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 24/10/2017. Hiện nay các con chung đang sống chung với chị tại tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Chị O trình bày thu nhập hiện nay của chị khoảng 17.000.000 đồng/tháng, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc, lo cho các con chung từ việc ăn ở, học tập. Còn anh Thái Phước H từ khi chuyển ra ngoài ở riêng, không có công việc và thu nhập ổn định, không đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc các con như chị O. Nên chị O có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị O không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi các con chung cùng chị.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, nên chị O không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị O cam kết vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, nên cũng không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.

2

Tại phiên tòa, chị O giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và trình bày nêu trên.

Đối với bị đơn anh Thái Phước H: Anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng anh H không đến Tòa án và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị O đối với anh.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng:

Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử và trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Còn bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, còn bị đơn ông Thái Phước H được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng như sau:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị O, cho chị O được ly hôn anh Thái Phước H.

Về con chung: Giao hai người con chung tên Thái Ngọc T, sinh ngày 11/10/2011 và Thái Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 24/10/2017 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh H được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung, chị O không được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị O không yêu cầu nên đề nghị miễn xét.

Về tài sản chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị miễn xét.

Về nợ chung: Chị O cam kết vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị miễn xét.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 006950 ngày 03/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1].Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Thái Phước H có địa chỉ cư trú tại địa bàn thành phố P, tỉnh Kiên Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị O, nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị O, còn bị đơn anh Thái Phước H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Vào năm 2010, chị Nguyễn Thị O và anh Thái Phước H tự nguyện quen biết, tìm hiểu nhau và về chung sống vợ chồng. Đến năm 2019 thì cả hai đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 18/7/2019, nên đây được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng chị O, anh H cùng sống chung nhà với cha mẹ ruột của chị O tại tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc. Sau đó thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị O và anh H thường xuyên cãi vã nhau về vấn đề tình cảm vợ chồng với lí do anh H có quen người phụ nữ khác ở bên ngoài và anh H còn đến nơi làm việc của chị O để hạ thấp danh dự của chị O, nên từ đó làm cho tình cảm vợ chồng giữa chị O và anh Hậu bị rạn nứt. Ngoài ra, chị O còn cho biết do anh H không có trách nhiệm trong việc chăm lo cho cuộc sống gia đình và cùng chị chăm sóc, dạy dỗ các con chung, nên dẫn đến cuộc sống hôn nhân giữa chị O và anh H ngày càng lạnh nhạt, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Cũng từ những lí do đó mà chị O và anh H đã sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay, mỗi người sống một nơi. Chị O hiện đang sống chung nhà với cha mẹ ruột tại địa chỉ thuộc tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Còn anh H thời gian đầu có thuê phòng trọ thuộc nhà trọ G, tại địa chỉ thuộc tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang để sinh sống, thời gian sau này anh H trở về nhà cha mẹ ruột tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ sinh sống cho đến nay. Nay chị O xác định không còn tình cảm vợ chồng với

4

anh H, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thái Phước H.

Hội đồng xét xử nhận thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị O và anh Thái Phước H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, đến nay thì không còn sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đỡ nhau trong cuộc sống, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng thêm lạnh nhạt. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2021, mỗi người sống một nơi. Tại phiên tòa, chị O vẫn giữ nguyên ý kiến xin được ly hôn với anh H, vì chị cho rằng chị không còn tình cảm vợ chồng với anh H và không muốn hàn gắn đoàn tụ với anh H.

Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị O về việc xin lyhôn với anh Thái Phước H là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 Nghị quyếtsố 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dântối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việcvề hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử thống nhất cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn với anh Thái Phước H.

[2.2]. Về con chung:

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có với nhau hai người con chung gồm: Thái Ngọc T, sinh ngày 11/10/2011 và Thái Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 24/10/2017. Hiện nay các con chung đang sống chung với chị O tại tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Chị O trình bày thu nhập hiện nay của chị khoảng 17.000.000 đồng/tháng, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc cho các con chung. Nên chị O có nguyện vọng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị O không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi các con chung cùng chị.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại biên bản ghi nhận ý kiến của các con chung ngày 18/3/2025, cháu Thái Ngọc T và cháu T1 Nguyễn Hoàng Y đều đã trên 07 tuổi và đều trình bày nguyện vọng muốn được sống cùng mẹ là chị Nguyễn Thị O sau khi cha mẹ các cháu ly hôn, việc các cháu muốn theo mẹ là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Hơn nữa, theo trình bày của chị O thì chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con của chị liên tục từ nhỏ đến lớn, anh H thì bỏ nhà đi không quan tâm đến cuộc sống của các con, chị có công ăn việc làm ổn định đảm bảo điều kiện để chăm sóc tốt nhất cho các con từ việc ăn uống, học tập, sinh hoạt trong cuộc sống, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi các con cùng chị. Do đó, căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Điều 6 - Hướng dẫn trường hợp giải quyết việc nuôi con khi ly hôn quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình), cần thiết để chị O tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung để đảm bảo

5

sự ổn định môi trường sống, học tập của cháu và phù hợp với nguyện vọng của các cháu muốn được sống chung với mẹ các cháu là chị Nguyễn Thị O.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị O không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi các con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tuy nhiên, vì lợi ích mọi mặt của các con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

[2.3]. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị O không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị O cam kết vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc về việc giải giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị O phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

- Bị đơn anh Thái Phước H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 9, Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

6

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị O về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” đối với bị đơn anh Thái Phước H.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O được ly hôn với anh Thái Phước H.

- Về con chung: Giao hai con chung tên Thái Ngọc T, sinh ngày 11/10/2011 và Thái Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 24/10/2017 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Anh Thái Phước H không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng chị Nguyễn Thị O.

Tuy nhiên, vì lợi ích mọi mặt củacon chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị O không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

-Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị O cam kết vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006950 ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Chị O đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị O có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Thái Phước H vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND TP. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS TP. Phú Quốc;
  • - UBND P. Trung Kiên, quận Thốt Nốt,
  • TP. Cần Thơ (Số 121 ngày 18/7/2019);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhung

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị O ly hôn, tranh chấp con chung với Thái Phước H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger