Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH LỢI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29-5-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Hồng Chi
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Phạm Văn Sáu
    • 2. Bà Kim Thị Sà Mết
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Tào Diệu Như, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lào, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 97/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025; giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh ngày 19/4/1976. Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 3 năm 2025, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 21 tháng 4 năm 2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị O, trình bày: Vào năm 1998, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Đến tháng 11 năm 2007, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu và đã được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 02, ngày 08 tháng 11 năm 2007.

Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ có tất cả 02 (hai) người con chung là Nguyễn Thị P, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1999 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003. Hiện nay, Nguyễn Thị P và Nguyễn Thị Ngọc N đã trưởng thành khỏe mạnh và có công việc ổn định, đã có gia đình.

Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ chung sống có tạo lập được căn nhà cấp 4, chiều ngang 4,5m, chiều dài 11m, có cấu trúc lọp tol, vách thiếc, nền đất gắn liền với diện tích đất nền và đất trồng lúa là 02 công tầm cấy; đất tọa lạc ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu và một số vật dụng sinh hoạt trong gia đình. Ngoài ra, không còn tài sản chung nào khác nữa.

Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ không vay, mượn tiền, tài sản của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức tín dụng hoặc Ngân hàng nào nên không có nợ chung.

Trong thời gian chung sống, do tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, mỗi lần uống rượu xong thì ông Nguyễn Văn Đ có lời lẽ thô tục với bà Nguyễn Thị O; ông Nguyễn Văn Đ có mối quan hệ không lành mạnh với người phụ nữ khác dẫn đến giữa bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Bà Nguyễn Thị O đang sống tại địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; còn ông Nguyễn Văn Đ đang sống tại địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Trong thời gian sống ly thân, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ có gặp gỡ trực tiếp với nhau và cũng có liên lạc với nhau bằng điện thoại để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.

Nay bà Nguyễn Thị O yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ; không yêu cầu được đoàn tụ. Khi ly hôn, do Nguyễn Thị P, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1999 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003 đã trưởng thành khỏe mạnh nên bà Nguyễn Thị O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, bà Nguyễn Thị O xác định bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ thống nhất tự thỏa thuận nên bà Nguyễn Thị O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung, bà Nguyễn Thị O xác định bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ chung sống không có nợ chung nên bà Nguyễn Thị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ý kiến, trình bày của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập ông Nguyễn Văn Đ đến Tòa án, nhưng ông Nguyễn Văn Đ không thực hiện việc gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án cho Tòa án và cũng không đến Tòa án làm việc nên không thể ghi nhận ý kiến, yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà Nguyễn Thị O cung cấp và do Tòa án thu thập được để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị O đối với ông Nguyễn Văn Đ, cho bà Nguyễn Thị O được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ. Về con chung, Nguyễn Thị P, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1999 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003 đã trưởng thành khỏe mạnh và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Về nợ chung không có và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Bà Nguyễn Thị O phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị O yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ và hiện nay ông Nguyễn Văn Đ đang cư trú tại ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị O có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn Đ vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1998. Đến tháng 11 năm 2007, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ mới tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 02, ngày 08 tháng 11 năm 2007 nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[2.2] Bà Nguyễn Thị O yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ với lý do trong thời gian chung sống, do tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, mỗi lần uống rượu xong thì ông Nguyễn Văn Đ có lời lẽ thô tục với bà Nguyễn Thị O; ông Nguyễn Văn Đ có mối quan hệ không lành mạnh với người phụ nữ khác dẫn đến giữa bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ không có gặp gỡ trực tiếp với nhau và cũng không có liên lạc với nhau bằng điện thoại nên không có biện pháp gì để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại Biên bản xác minh ngày 22 tháng 5 năm 2025, Trưởng ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu xác định bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ đã sống ly thân khoảng hơn 02 năm nay. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ thực tế đã phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết, cuộc sống chung giữa bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ thực tế đã không còn và không thể duy trì. Điều này cho thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ đã không còn có sự quan tâm, chăm sóc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị O đối với ông Nguyễn Văn Đ, cho bà Nguyễn Thị O được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

[2.3] Bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ chung sống có tất cả 02 (hai) người con chung gồm Nguyễn Thị P, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1999 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003. Bà Nguyễn Thị O xác định do Nguyễn Thị P, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1999 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003 đã trưởng thành khỏe mạnh và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị O xác định bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết. Ông Nguyễn Văn Đ không thể hiện ý kiến có tranh chấp và yêu cầu giải quyết về vấn đề tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2.5] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị O xác định bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Văn Đ không thể hiện ý kiến có tranh chấp và yêu cầu giải quyết về nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2.6] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, bà Nguyễn Thị O phải nộp 300.000 đồng. Bà Nguyễn Thị O đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004696 ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí.

[3] Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội và điểm 1.1 phần II mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016):

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị O đối với ông Nguyễn Văn Đ. Cho bà Nguyễn Thị O được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
  2. Về con chung: Do Nguyễn Thị P, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1999 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003 đã trưởng thành, khỏe mạnh và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  5. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, bà Nguyễn Thị O phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị O đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004696 ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Vĩnh Lợi;
  • - Chi Cục THADS huyện Vĩnh Lợi;
  • - UBND xã Vĩnh Hưng A, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dương Hồng Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Oanh yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger