TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-6-2025 Về việc: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đình Thị Thanh Hải, ông Trần Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Lương Chi Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 158/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị Kim D, sinh năm: 1984. Số CC: 015.184.001.441 ngày cấp: 08/01/2025, nơi cấp: Bộ C1.
Địa chỉ: Tổ B, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng C, sinh năm: 1982. Số CCCD: [...] ngày cấp: 13/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1.
Địa chỉ: Tổ B, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái
Hiện đang cai nghiện tại khu A, Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái - thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
Các đương sự vắng mặt, đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Lương Thị Kim D trình bày:
Chị và anh Nguyễn Trọng C đăng ký kết hôn ngày 30/12/2002, tại UBND phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Quá trình sinh sống từ năm 2004 đến năm 2024, anh C thường xuyên vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án 06 lần. Thời gian ở nhà, anh không lo cho gia đình, vợ con còn thường xuyên đe dọa và đánh đập chị. Hiện anh đang cai nghiện tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái từ tháng 01/2024 đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng C.
Về nuôi con: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 07/12/2003, hiện đã trưởng thành trên 18 tuổi, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai của anh Nguyễn Trọng C thể hiện:
Về hôn nhân: Anh và chị Lương Thị Kim D tự nguyện kết hôn ngày 30/12/2002, tại UBND phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, tuy nhiên do bản thân anh nhiều lần vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án và đi cai nghiện bắt buộc nên không có thời gian chăm sóc gia đình, vợ con. Anh cũng nhiều lần khuyên giải chị D và đề nghị chị D cho cơ hội để đoàn tụ, nuôi con chung, tuy nhiên đến nay, chị D kiên quyết xin ly hôn. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn đề nghị Tòa án hòa giải vợ chồng về đoàn tụ. Trường hợp chị D kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng nhất trí.
Về nuôi con: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 07/12/2003, hiện đã trưởng thành trên 18 tuổi, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự từ khi thụ lý và trong quá trình giải quyết vụ án đến khi nghị án đã đúng theo quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho chị Lương Thị Kim D được ly hôn anh Nguyễn Trọng C và đề nghị giải quyết các vấn đề về án phí, kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc ly hôn; bị đơn anh Nguyễn Trọng C có hộ khẩu thường trú tại phường M, thành phố Y, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trọng C đăng ký kết hôn ngày 30/12/2002, tại UBND phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, chị D xác nhận vợ chồng chung sống không hạnh phúc, anh C không quan tâm đến gia đình, vợ con, nhiều lần vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án và đi cai nghiện bắt buộc, thời gian ở nhà anh C còn đe dọa, đánh đập chị. Anh C trình bày vợ chồng vẫn sống hạnh phúc bình thường, tuy nhiên anh C cũng thừa nhận do anh nhiều lần vi phạm pháp luật nên phải đi chấp hành án và đi cai nghiện bắt buộc nên không có thời gian chăm sóc gia đình, vợ con, mặc dù anh đã nhiều lần khuyên giải nhưng đến nay chị D vẫn kiên quyết ly hôn. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, trường hợp chị D kiên quyết ly hôn anh cũng nhất trí. Như vậy, anh chị đều xác định do anh C nhiều lần vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án và đi cai nghiện ma túy bắt buộc nên anh C không có thời gian chăm sóc gia đình, vợ con. Chị D xác định tình cảm đã hết, yêu cầu được ly hôn với anh C. Anh C xác định trường hợp chị D kiên quyết ly hôn, anh cũng nhất trí. Từ đó, có căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị D và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, được chấp nhận.
[3] Về nuôi con: Chị D, anh C xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 07/12/2003, hiện đã trưởng thành, chị D, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
[4] Về tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[6] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chị Lương Thị Kim D được ly hôn anh Nguyễn Trọng C.
- Về án phí: Chị Lương Thị Kim D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số: AA/2024/0002414 ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lương Thị Kim D, anh Nguyễn Trọng C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Văn |
Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thị Kim D-Nguyễn Trọng Ch, ly hôn, tranh chấp về nuôi con
