Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 5 - 2025

“V/v tranh chấp về hôn nhân

và gia đình, ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, bà Nguyễn Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2025/TLST- HNGĐ ngày 10/3/2025 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXXST-HN ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc H, sinh năm 1987, nơi cư trú: số A, tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lâm Vũ H1, sinh năm 1984, địa chỉ: số A, tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà H trình bày:

Bà và ông H1 tự tìm hiểu yêu thương chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn số 107, quyển 01, ngày 13/5/2005 tại UBND phường N, thị xã (nay là thành phố) C. Thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, nên không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn sống chung nhau từ năm 2018 đến nay, vợ chồng không thể hàn gắn để sống chung với nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông H1. Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà H, ông H1 có 04 con chung tên Lâm Như Ý, sinh ngày 10/4/2005 (trưởng thành) và Lâm Quốc N, sinh ngày 24/6/2009; Lâm Quốc V, sinh ngày 23/8/2011 và Lâm Như N1, sinh ngày 03/10/2018. Bà H yêu cầu được nuôi các con chung, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải giữa các đương sự, tuy nhiên ông H1 vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
  • + Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ (Niêm yết công khai) nhưng vắng mặt lần hai không có lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • + Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, qua lời trình bày của bà H thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H1 không chăm lo làm ăn, quan tâm đến gia đình, nên vợ chồng đã sống ly thân. Kết quả xác minh tại địa phương cho biết vợ chồng bà H và ông H1 không còn chung sống khoảng hơn 01 năm nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng, hàn gắn tình cảm gia đình, nhưng ông H1 đều không tham gia và từ chối nhận văn bản tòa án tống đạt. Từ đó cho thấy, ông H1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, có kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt, nên chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông H1.

Con chung: Xét 03 con chung tên Lâm Quốc N sinh ngày 24/6/2009, Lâm Quốc V sinh ngày 23/8/2011, Lâm Như N1 sinh ngày 03/10/2018 hiện đang sống cùng bà H; các con có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà H. Do đó, để ổn định cuộc sống các con chung nên giao các con chung Quốc N, Quốc V, Như N1 cho bà H nuôi dạy theo yêu cầu của bà là phù hợp quy định pháp luật cũng như nguyện vọng các con chung; ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi các con chung. Riêng, đối với con chung Lâm Như Ý sinh ngày 10/4/2005, hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Từ phân tích trên, căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Lê Ngọc H được ly hôn với ông Lâm Vũ H1; bà H được nuôi các con chung Lâm Quốc N sinh ngày 24/6/2009, Lâm Quốc V sinh ngày 23/8/2011, Lâm Như N1 sinh ngày 03/10/2018; ông H1 không cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn có nơi cư trú tại khu vực khóm V, phường N, thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn số 107, ngày 13/5/2005 tại UBND phường N nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Bà H khai: nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, nên không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn sống chung nhau từ năm 2018 đến nay, vợ chồng không thể hàn gắn để sống chung với nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông H1.

Theo kết quả xác minh của Ban K, phường N, thành phố C được biết bà H, ông H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ I, khóm V, phường N, thành phố C. Hiện nay ông H1 đi đâu làm gì không rõ. Bà H và ông H1 không sống chung với nhau hơn 01 năm.

Tòa án nhiều lần thông báo cho ông H1 và tiến hành hòa giải để tạo điều kiện cho bà H và ông H1 hàn gắn tình cảm nhưng ông H1 vẫn vắng mặt và không trình bày ý kiến cho Tòa án, cho thấy ông H1 không có thiện chí, mong muốn hàn gắn tình cảm. Hơn nữa, vợ chồng đã không còn sống chung khoảng 01 năm nay nhưng vẫn không thể hàn gắn được, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của bà H, ông H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H1 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Bà H, ông H1 có 04 con chung Lâm Như Ý, sinh ngày 10/4/2005 (trưởng thành) và Lâm Quốc N, sinh ngày 24/6/2009; Lâm Quốc V, sinh ngày 23/8/2011 và Lâm Như N1, sinh ngày 03/10/2018. Bà H yêu cầu được nuôi các con chung. Xét các con chung hiện đang sống với bà H và có nguyện vọng được sống với bà H nên Hội đồng xét xử giao 03 cháu N, V, N1 cho bà H tiếp tục nuôi dạy cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Riêng cháu Lâm Như Ý (đã trưởng thành) nên không xem xét giải quyết.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bà H.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Ngọc H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ngọc H được ly hôn với ông Lâm Vũ H1.
  2. Về con chung: Bà Lê Ngọc H được tiếp tục nuôi dạy 03 con chung tên Lâm Quốc N, sinh ngày 24/6/2009 và Lâm Quốc V, sinh ngày 23/8/2011 và Lâm Như N1, sinh ngày 03/10/2018 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Riêng cháu Lâm Như Ý, sinh ngày 10/4/2005 (đã trưởng thành) nên không xem xét, giải quyết. Ông Lâm Vũ H1 không cấp dưỡng nuôi con chung.

    Bà H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

    Bà Lê Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006191 ngày 10 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà H đã nộp đủ án phí.

    Ông Lâm Vũ H1 không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

  4. Giấy chứng nhận kết hôn số 107, quyển số 01 do UBND phường N, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang cấp ngày 13/65/2005 không còn giá trị pháp lý.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Ngọc H, ông Lâm Vũ H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS TP. Châu Đốc;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H khởi kiện ly hôn H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger