Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25-6-2025

“V/v: Ly hôn giữa anh T và

chị Q"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng

Ông Lưu Xuân Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Toàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 37/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt).
  • - Bị đơn: Chị Phạm Thị Q, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn I, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 18-3-2025, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Q tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 1993 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, do thời gian đã lâu nên anh T không nhớ cụ thể ngày, tháng đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2000 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hoà hợp, bất đồng quan điểm, tính cách, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống nên hay xảy ra va chạm. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2000 cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nay anh T nhận thấy không còn tình cảm với chị Q, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau và không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ nên anh T làm đơn đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị Quy .

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Thị Y, sinh ngày 24-02-1995; Nguyễn Văn D, sinh ngày 15-9-1996 và Nguyễn Thị L, sinh ngày 04-10-1998. Hiện nay các con chung đã trưởng thành và lập gia đình riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Nguyễn Văn T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn chị Phạm Thị Q nhận các các văn bản tố tụng của Toà án cho chị Q nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Q không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Văn T.

Qua xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của anh T và chị Q tại địa phương, đại diện Ủy ban nhân dân xã N cho biết: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 và chị Phạm Thị Q, sinh năm 1973 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N vào năm 1993. Hiện tại, sổ đăng ký kết hôn trước năm 1998 không có. Quá trình chung sống anh T và chị Q có ba con chung là là Nguyễn Thị Y, sinh ngày 24-02-1995; Nguyễn Văn D, sinh ngày 15-9-1996 và Nguyễn Thị L, sinh ngày 04-10-1998 có đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N. Tuy nhiên mâu thuẫn như thế nào, nguyên nhân từ đâu địa phương không nắm rõ do các đương sự không đề nghị hòa giải tại cơ sở mà nộp đơn trực tiếp tại Toà án.

Vì lý do công việc bận nên anh T có đơn đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị Quy .

Về con chung: Anh T xác nhận các con chung đã trưởng thành và lập gia đình riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn T có đơn xin giải quyết vắng mặt, chị Phạm Thị Q là bị đơn được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị Q vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh T, chị Q là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị Q là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn vào năm 1993. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hòa thuận hạnh phúc do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp và hay xảy ra va chạm. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2000 đến nay. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn chị Phạm Thị Quy .

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị Q và qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị Q là có thật, việc mâu thuẫn xuất phát từ việc do không hoà hợp, bất đồng quan điểm, tính cách, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống nên hay xảy ra va chạm. Vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm với nhau từ năm 2000. Trong thời gian sống ly thân đã rất lâu, hai bên không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại. Anh T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và cho anh được ly hôn với chị Q. Quá trình giải quyết vụ án, chị Q không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản ý kiến của mình cho Tòa án, chứng tỏ bản thân chị Q cũng không còn nguyện vọng mong muốn tiếp tục chung sống với anh T. Do đó, từ những phân tích trên, cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của anh T đối với chị Q là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Thị Y, sinh ngày 24-02-1995; Nguyễn Văn D, sinh ngày 15-9-1996 và Nguyễn Thị L, sinh ngày 04-10-1998. Hiện nay các con chung đã trưởng thành và lập gia đình riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị Quy .
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0005300 ngày 19-3-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực. Anh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện + tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã Nam Thái;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC - TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa anh T và chị Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger