Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦU NGANG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày 21/3/2025

“V/v tranh chấp ly hôn, tranh

chấp về nuôi con giữa chị T và

T1”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Lê Thị Tranh.

Các Hội Thẩm nhân dân:- Ông Huỳnh Văn Đương

Ông Kim Na Rinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thị Vân Khoa, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn An – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại hai điểm cầu:

  • - Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện cầu Ngang;
  • - Điểm Cầu thành phần Toà án nhân dân huyện Tiểu Cần;

Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm theo hình thức trực tuyến công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 169/2025/TLST- HNGĐ, ngày 15/01/2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐST-HN, ngày 23/02/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thạch Thị T, sinh năm 2000;

Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Có mặt

Bị đơn: Anh Thạch T1, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Ấp L, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Thạch Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2017 chị T và anh Thạch T1 quen nhau và xác lập quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định, thời gian chung sống chị T và anh T1 có 02 con chung tên Thạch Thanh T2, sinh ngày 07/12/2018 anh T1 đang nuôi riêng Thạch Thị Thanh T3, sinh ngày 29/7/2020 chị T đang nuôi. Nguyên nhân mâu thuẫn chị T cho rằng chị và anh T1 bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên hay cải nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị T bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ ngày 12/9/2020 cho đến nay tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thạch T1.

- Về con chung tên: Thạch Thanh T2, sinh ngày 07/12/2018 anh T1 đang nuôi riêng Thạch Thị Thanh T3, sinh ngày 29/7/2020, nay chị T yêu cầu được nuôi con tên Thạch Thị Thanh T3 và chị đồng ý để anh T1 nuôi con Thạch Thanh T2 và không ai cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị T không tranh chấp, không khởi kiện, không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Thạch T1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có lời trình bày.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Việc giải vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự; xác định đúng quan hệ pháp luật theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thụ lý đúng thẩm quyền theo quy định tại tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thu thập chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 97, 98 Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thủ tục nhận đơn Toà án đã thực hiện đúng quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thời hạn xét xử đảm bảo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Toà án đã tống đạt thông báo về phiên hoà giải và tiến hành hoà giải nhằm hàn gắn quan hệ hôn nhân giữa các đương sự đúng theo quy định tại Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đúng theo quy định tại Điều 208, 209 Bộ luật Tố tụng dân sự; Đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời gian quy định, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự hợp lệ, đảm bảo thời hạn luật định.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà: Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến nay, chị Thạch Thị T đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy

định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T1 chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thạch Thị T được ly hôn với anh Thạch T1. Về quyền nuôi con căn cứ quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thạch Thị T được quyền nuôi con chung tên Thạch Thị Thanh T3, sinh ngày 29/7/2020 anh Thạch T1 được quyền nuôi con chung Thạch Thanh T2, sinh ngày 07/12/2018; về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung của vợ chồng và về số nợ phải thu phải trả chị T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết đề nghị không xem xét, về án phí căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Thạch Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Thạch T1 có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà bị đơn anh Thạch T1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo luật định.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét đơn của chị T khởi kiện xin ly hôn với chị anh T1, yêu cầu được nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị T và anh T1 chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các Điều 08 và Điều 09 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của chị T và anh T1 là hợp pháp.

Xét thấy quá trình chung sống giữa chị T và anh T1 tuy chưa thống nhất với nhau về quan điểm đời sống vợ chồng, lối sống, về cách ứng xử giao tiếp thì anh chị phải biết tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với cuộc sống hiện tại, cùng nhau góp ý xây dựng, chia sẽ và tôn trọng lẫn nhau để tìm cách giải quyết mọi vấn đề một cách êm đẹp nhất nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình. Khi mâu thuẫn phát sinh chị T và anh T1 đều bỏ mặt cho hậu quả xảy ra, không còn quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, anh chị luôn bất hòa với nhau về mọi mặt, mạnh ai nấy sống từ năm 2020 cho tới nay làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Tòa án đã hòa giải hai lần để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T1 không đến và tại phiên tòa hôm nay anh T1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và cũng tại biên bản ghi lời khai, ngày

07/2/2025 anh T1 cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T, từ đó cho thấy khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là không có kết quả.

Tại phiên tòa hôm nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin được ly hôn với anh T1 là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của chị T, xử cho chị T và anh T1 được ly hôn với nhau.

- Về nuôi con tên: Thạch Thanh T2, sinh ngày 07/12/2018 và Thạch Thị Thanh T3, sinh ngày 29/7/2020 là con chung của chị T và anh T1, trong thời gian anh chị ly thân đến nay con chung Thạch Thị Thanh T3, sinh ngày 29/7/2020 sống chung với chị T, được chị T nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo về mọi mặc riêng con chung tên Thạch Thanh T2, sinh ngày 07/12/2018 sống chung với anh T1 được anh T1 nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo về mọi mặc và tại biên bản ghi lời khai ngày 07/02/2025 anh T1 yêu cầu được nuôi con Thạch Thanh T2 anh đồng ý để chị T nuôi con Thạch Thị Thanh T3, để hai con chung Thạch Thanh T2 và Thạch Thị Thanh T3 có cuộc sống ổn định về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần, Hội đồng xét xử giao con chung tên Thạch Thanh T2, sinh ngày 07/12/2018 cho anh T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và giao con chung Thạch Thị Thanh T3, sinh ngày 29/7/2020 cho Thạch Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay anh chị T không khởi kiện, không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Thạch Thị T phải nộp tiền án phí theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 01 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 227, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị T.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị T và anh Thạch T1 được ly hôn với nhau.
  • - Về nuôi con: Chị Thạch Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Thạch Thị Thanh T3, sinh ngày 29/7/2020 sau khi ly hôn.
  • Anh Thạch T1 được quyền trực tiếp, trông nom, chăn sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Thạch Thanh T2, sinh ngày 07/12/2018 sau khi ly hôn.
  • Chị Thạch Thị T và anh Thạch T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị T không khởi kiện, không tranh chấp không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về số nợ phải thu, phải trả: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Thạch Thị T có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011620, ngày 14/01/2025 do chị T nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu, chị Thạch Thị T đã nộp đủ án phí.
  • - Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Chi Cục THADS huyện;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã N huyện C, tỉnh Trà Vinh;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Lê Thị Tranh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger