Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-STNgày 19-11-2025V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Yến
Bà Đỗ Thị Viện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diệu L, sinh năm 2003; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Cho H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số F S-ri, Daisi-myeon, N-si, J-do, Hàn Quốc; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn ly hôn đề ngày 22-9-2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Diệu L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Cho H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/7/2024. Sau khi kết hôn, anh chị sống với nhau một thời gian ngắn ở Việt Nam thì anh Cho H phải trở về Hàn Quốc. Thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc với nhau qua điện thoại sau đó giữa hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình hai bên không hợp nhau, khoảng cách về tuổi tác, sự bất đồng về phong tục tập quán, ngôn ngữ. Gia đình hai bên đã tác động, khuyên giải anh chị nhưng không có kết quả. Nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Cho H được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Cho H không có con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, không tiến hành hòa giải và ủy quyền đã được Đ tại Hàn Quốc chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự, bị đơn là anh Cho H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Diệu L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/7/2024. Sau khi kết hôn, anh chị sống cùng nhau ở Việt Nam một thời gian ngắn thì anh phải về nước. Lúc đầu vợ chồng còn liên lạc với nhau quan điện thoại nhưng chỉ được mấy tháng đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, khoảng cách về tuổi tác, sự bất đồng về phong tục tập quán, ngôn ngữ. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không đạt kết quả. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên anh đề nghị Tòa án cho anh chị ly hôn để anh nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh và chị L không có con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản trình bày, ông Nguyễn Phú L1 là bố đẻ chị L xác nhận: Chị L và anh Cho H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình ông tại Việt Nam một thời gian ngắn thì anh Cho H về nước. Thời gian đầu anh chị còn liên lạc, nói chuyện với nhau nhưng do khoảng cách về địa lý, khác biệt về giờ giấc, lối sống, văn hóa nên dần dẫn giữa hai bên nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng không thể giải quyết được. Gia đình ông đã cố gắng hòa giải để chị L và anh C Hyunsang có cơ hội đoàn tụ nhưng không có kết quả. Đến nay chị L không thể sang Hàn Quốc sinh sống, anh Cho H cũng không thể về Việt Nam nên anh chị không thể đoàn tụ được với nhau. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án sớm giải quyết cho chị L và anh Cho H được ly hôn để hai bên ổn định cuộc sống. Chị L và anh Cho H không có con chung.

Chị L và anh Cho H đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của các đương sự, kết quả xác minh, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án về ly hôn, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Diệu L có địa chỉ nơi cư trú tại phường Đ, thành phố Hải Phòng và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Cho H hiện đang cư trú tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 27/6/2025; Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
  2. [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

  1. [3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Cho H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/7/2024, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
  2. [4] Các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được xác định: Từ sau khi kết hôn, chị L và anh Cho H thường xuyên sinh sống xa nhau do khoảng cách địa lý, có nhiều khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá, lối sống nên chị L và anh Cho H phát sinh nhiều mâu thuẫn tình cảm. Hiện nay, anh chị đang sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Chị L xin ly hôn và anh Cho H cũng đồng ý. Xét thấy, chị L và anh Cho H đã không còn chung sống, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình làm cho cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh Cho H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ, việc về hôn nhân và gia đình.
  3. [5] Về con chung: Chị L và anh Cho H không có con chung.
  4. [6] Về tài sản chung: Chị L và anh Cho H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. [7] Về án phí: Chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  6. [8] Về quyền kháng cáo: Chị L và anh Cho H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diệu L được ly hôn anh Cho H.
  2. Về con chung: Chị L và anh Cho H không có con chung.
  3. Về tài sản chung: Chị L và anh Cho H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004834 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố H; chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo:

    Chị Nguyễn Thị Diệu L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Anh Cho H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 6 - Hải Phòng;
  • - THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND phường Đồ Sơn, TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hoàng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Mai Hương - Hoàng Thị YếnNguyễn Thị Minh Phương
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Diệu L ly hôn anh Cho H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger