Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17/6/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Loan
  • 2. Ông Lê Cát Tưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 190/2025/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025; quyết định hoãn phiên toà số: 118/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H - Sinh năm 1991

Địa chỉ: S Phú Thứ T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Trần Minh Q - Sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt có mặt các bên đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, ý kiến tại phiên toà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Minh Q chung sống với nhau tháng 12/2015, đến năm năm 2018 mới đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Q chơi bời, không tu trí làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con và gia đình, nên mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Năm 2023 chị đã làm đơn xin ly hôn, nhưng nghĩ về con cái chị đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Kể từ tháng 9/2024 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Minh Q.

Về con chung: Chị và anh Trần Minh Q có 01 con chung, cháu Trần Minh V, sinh ngày 07/10/2016. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Minh V và yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai, ý kiến tại phiên toà anh Trần Minh Q trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thu H chung sống với nhau tháng 12/2015, sau khi có con chung mới đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, quan điểm cách sống luôn trái ngược nhau, mặt khác anh thừa nhận không tú chí làm ăn, thiếu quan tâm đến vợ con và gia đình nên mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Năm 2023 chị H đã làm đơn xin ly hôn, nhưng sau đó đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Từ tháng 9/2024 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh cũng xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Thu H có 01 con chung, cháu Trần Minh V, sinh ngày 07/10/2016. Tại bản tự khai anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Minh V, tại phiên toà anh Q đồng ý để chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Minh V, anh tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Cung cấp của chính quyền địa phương:

Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Minh Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau tại địa phương có phát sinh mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không biết vì vợ chồng không báo cáo.Hiện nay chị H đã bỏ về nhà ngoại để ở, còn anh Q đang sinh sống tại địa phương. Nay chị H làm đơn xin ly hôn thôn đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng quay về đoàn tụ, nếu chị H cương quyết xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, vợ chồng có 01 con chung cháu Trần Minh V, sinh ngày 07/10/2016. Đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung vợ chồng có những tài sản gì thôn không biết.

Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, anh Q đồng ý ly hôn, đồng ý cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Minh V nhưng các bên đương sự đề nghị Toà án không hoà giải mà đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký, các bên đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Minh Q có hộ khẩu thường trú tại tại thành phố T, nên Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Trần Minh Q kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn chị H thấy rằng: Hôn nhân muốn tồn tại trước hết vợ chồng phải thương yêu, tin tưởng nhau và có trách nhiệm với nhau cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua xem xét lời khai của chị H, anh Q cho thấy, sau khi kết hôn anh, chị đã có thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn và đã kéo dài trầm trọng. Chị H, anh Q đều thừa nhận năm 2023 chị H đã nộp đơn xin ly hôn sau đó đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được, nên từ tháng 9/2024 chị H đã bỏ về nhà ngoại để ở, vợ chồng sống ly thân nhau nhiều tháng nay. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh Q cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý. Tại phiên toà các bên đề nghị không hoà giải, điều đó cho thấy anh Q, chị H không có ý thức níu kéo lại gia đình.

Từ sự phân tích như trên có đủ cơ sở xác định, tình trạng mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Thu H, anh Trần Minh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H xử cho chị được ly hôn anh Trần Minh Q.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Trần Minh Q có 01 con chung, cháu Trần Minh V, sinh ngày 07/10/2016. Ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Minh V anh Q đồng ý. Xét nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con của chị H là chính đáng, bởi cháu V đang còn nhỏ, lâu nay đang được chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Do đó căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Minh V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng là phù hợp.

[4] Về tài sản: Chị H, anh Q không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Trần Minh Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5, 6 Điều 27, khoản 1. 1 Điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Trần Minh Q.

Về con chung: Công nhận cháu Trần Minh V, sinh ngày 07/10/2016 là con chung của Nguyễn Thị Thu H, anh Trần Minh Q. Giao cháu Minh V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi cháu Minh Vũ thành N.

Anh Trần Minh Q có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản, công nợ: Tòa án không xem xét giải quyết.

Án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006667 ngày 12/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (chị H đã nộp đủ tiền án phí). Anh Trần Minh Q chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Trần Minh Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPTH;
  • - THA DS TP.Thanh Hoá;
  • - UBND phường Phú Sơn,
  • TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger