|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Bảo Yến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Loan;
Bà Vương Thị Liên.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Đỗ Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/6/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn A Nghĩa Trang, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Bị đơn: Anh Lê Như Đ, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn A Nghĩa Trang, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày:
Chị và anh Lê Như Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 02 tháng 7 năm 2014. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 04 năm 2025 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hoá xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Như Đ.
Về con chung: anh chị có 02 con chung là Lê Như Minh H1, sinh ngày 09/10/2015 và Lê Như Trúc N, sinh ngày 09/7/2017. Ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cháu Lê Như Trúc N cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Lê Như Minh H1 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Theo bản tự khai của bị đơn là anh Lê Như Đ trình bày:
Anh và chị Lê Thị H kết hôn năm 2014 trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vài năm gần đây do áp lực công việc thu nhập nên hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống. Đến ngày 14/4/2025, anh có nhận được thông báo của Tòa án về việc chị H yêu cầu ly hôn. Bản thân anh xét thấy trong cuộc sống thì ít nhiều có sự va chạm, mâu thuẫn, đồng thời vấn đề ly hôn còn cần được suy nghĩ, quyết định một cách bình tĩnh, chín chắn, nên anh đề nghị cho anh và chị H đàm phán và xem xét lại quyết định, hành động của hai bên.
Về con chung: anh chị có 02 con chung là Lê Như Minh H1, sinh ngày 09/10/2015 và Lê Như Trúc N, sinh ngày 09/7/2017. Do anh yêu cầu cần phải đàm phán và xem xét giữa anh và chị H nên không có ý kiến về việc nếu ly hôn thì phân chia con chung như thế nào.
Về tài sản chung và công nợ: Do không đồng ý ly hôn nên anh không đề cập.
Tại biên bản làm việc ngày 09/5/2025 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H thể hiện: chị Lê Thị H và anh Lê Như Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H theo giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 02 tháng 7 năm 2014. Sau khi kết hôn, chị H và anh Đ chung sống tại thôn A Nghĩa Trang, xã H, huyện H. Anh chị có 02 con chung là Lê Như Minh H1, sinh ngày 09/10/2015 và Lê Như Trúc N, sinh ngày 09/7/2017. Việc chị H và anh Đ có mâu thuẫn hay không, nguyên nhân mâu thuẫn là gì thì địa phương không nắm bắt được cụ thể. Hiện anh Đ làm công việc tự do tại địa phương.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì thêm. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã chấp hành đúng nhưng bị đơn chưa chấp hành đúng, đầy đủ các quy định về quyền, nghĩa vụ đương sự. Về nội dung vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị H, cho chị H được ly hôn với anh Lê Như Đ. Về con: giao cháu Lê Như Trúc N cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Lê Như Minh H1 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ: hai bên không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: chị Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng
Chị Lê Thị H yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với anh Lê Như Đ nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; anh Lê Như Đ có xác nhận thông tin về cư trú tại thôn A Nghĩa Trang, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị H và anh Đ đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận số 51 ngày 02 tháng 7 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Theo chị H trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm tháng 4 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vã. Từ tháng 4 năm 2025 vợ chồng sống ly thân, chị xác định không còn tình cảm với anh Đ, vợ chồng không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Anh Đ trình bày vợ chồng có mâu thuẫn do áp lực công việc nhưng anh cần có thời gian để anh và chị H đàm phán và xem xét lại quyết định, hành động của hai bên.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: hôn nhân bắt nguồn từ tình cảm tự nguyện của hai bên và bền chặt được cũng dựa trên sự tồn tại của cảm xúc, tình cảm tự nguyện từ hai phía, một trong hai bên dù có quyết tâm, tình cảm đến đâu mà phía còn lại không còn, không tự nguyện đều không đạt được mục đích của hôn nhân là sự chia sẻ, cảm thông, hòa hợp và hạnh phúc. Chị H đưa ra nhiều nội dung về nguyên nhân, lý do vợ chồng mâu thuẫn và xác định vợ chồng mâu thuẫn là có thật. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay. Mặt khác, dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đ vẫn vắng mặt tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù trước đó anh có khai là cần thời gian để hai bên bàn bạc như vậy cũng có thể xác định anh Đ cũng bỏ mặc không có mong muốn để vợ chồng trở về đoàn tụ thông qua công tác hòa giải tại Tòa án. Tại phiên tòa, chị H khẳng định không còn tình cảm với anh Đ và xin được ly hôn. Vì vậy, căn cứ vào vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh Đ.
[2.2] Về con chung: Chị H và anh Đ có 02 con chung là Lê Như Minh H1, sinh ngày 09/10/2015 và Lê Như Trúc N, sinh ngày 09/7/2017. Ly hôn, chị H có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Như Trúc N và giao cháu Lê Như Minh H1 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại bản tự khai, anh Đ có nguyện vọng để hai bên suy nghĩ nên không thể hiện về việc nếu ly hôn thì phân chia con chung.
Tại phiên tòa, anh Đ trình bày nếu ly hôn, cho anh được nuôi cháu Lê Như Minh H1 và giao cháu Lê Như Trúc N cho chị H.
Tại bản tự khai ngày 25/4/2025, Cháu H1 có nguyện vọng được ở cùng với bố, cháu N có nguyện vọng được ở cùng mẹ.
Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi ly hôn cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và đảm bảo sự phát triển tốt nhất của con chung, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, sự trình bày của các đương sự cũng như nguyện vọng của các cháu. Do đó giao cháu Lê Như Trúc N cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Lê Như Minh H1 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình. Chị H và anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trường hợp sau này anh Đ, chị H nhận thấy hai bên không có đủ điều kiện nuôi con chung thì có quyền khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn bằng một vụ án khác.
[2.3] Về tài sản, công nợ chung: Chị H và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị H ly hôn anh Lê Như Đ.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Như Minh H1, sinh ngày 09/10/2015 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao cháu Lê Như Trúc N, sinh ngày 09/7/2017 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không được ai cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000379, ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sựcó quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Bảo Yến |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HĐXX |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trịnh Thị Loan Vương Thị L1 |
Phạm Bảo Yến |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút ngày 20 tháng 6 năm 2025;
Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Bảo Y.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị L1;
Bà Trịnh Thị L2.
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 107/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/6/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn A Nghĩa Trang, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lê Như Đ, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn A Nghĩa Trang, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU :
- Về điều luật: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: 03/03
- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị H ly hôn anh Lê Như Đ.
Kết quả biểu quyết: 03/03.
- Về con chung: Giao cháu Lê Như Minh H1, sinh ngày 09/10/2015 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao Lê Như Trúc N, sinh ngày 09/7/2017 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không được ai cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
Kết quả biểu quyết: 03/03.
- Về tài sản, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Kết quả biểu quyết: 03/03.
- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000379, ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ án phí.
Kết quả biểu quyết: 03/03.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi...........giờ.........phút, ngày 20 tháng 6 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HĐXX |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vương Thị Liên Trịnh Thị L2 |
Phạm Bảo Y |
Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
