Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13-HẢI PHÒNG

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 15-12-2025

“V/v ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiền - Thẩm phán

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc và bà Nguyễn Thị Lý.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 13-Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13-Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13-Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 160/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/10/2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 07/3/1987; số CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn T, xã B, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn: Anh Vũ Văn T1, sinh ngày 09/10/1979; số CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn T, xã B, thành phố Hải Phòng.

(Chị T và anh T1 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Trước đây, bản thân chị là người đã có gia đình nhưng do cuộc sống gặp nhiều mâu thuẫn nên chị đã ly hôn với chồng cũ là anh Nguyễn Viết T2 người ở xã Đ, huyện T (cũ). Giữa chị và anh T2 có ba con chung, khi ly hôn thì anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung còn chị trực tiếp nuôi dưỡng một con chung là cháu Nguyễn Viết Đăng K. Trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, chị kết hôn với anh Vũ Văn T1 và được UBND xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là xã B, thành phố Hải Phòng) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào 03/11/2021. Trước khi kết hôn với chị, anh T1 cũng là người đã ly hôn với vợ cũ và cũng phải trực tiếp nuôi dưỡng một con chung là cháu Vũ Vũ Hải A, sinh năm 2008. Sau kết hôn, chị về chung sống với anh T1 tại nhà anh T1, ở cùng anh T1 còn có mẹ đẻ anh T1 là bà Đồng Thị X, con chung của anh T1 với vợ cũ là cháu Vũ Vũ Hải A, con chung của chị với anh T2 là cháu Nguyễn Viết Đăng K. Đến năm 2022, do cháu K mắc bệnh câm điếc nên có vào Trung tâm bảo trợ xã hội, thỉnh thoảng mới về nhà. Đến ngày 02/8/2022 thì chị sinh con chung với anh T1 là cháu Vũ Nguyễn Lan C. Trong cuộc sống chung của vợ chồng tại nhà có mẹ chồng, con riêng của chồng, con riêng của chị và con chung của vợ chồng nên không tránh khỏi những bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, tuy nhiên bản thân chị cũng đã cố gắng bằng mọi biện pháp để dung hòa mối quan hệ này nhưng trên thực tế thời gian chung sống càng dài thì mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Bản thân anh T1 là người có sử dụng ma túy, hiện đang uống thuốc Methadone thay thế và chịu sự quản lý của Công an xã B nhưng là người vẫn chủ động nghe lời mẹ, nghe lời con riêng nên có nhiều lần tỏ thái độ không đồng quan điểm với chị trong khi con riêng của anh T1 với vợ cũ có nhiều cử chỉ, hành động, lời nói không đúng mực với chị, mặt khác mẹ anh T1 với tư cách là bà nội của con riêng anh T1 lại tỏ thái độ có ý buộc chị phải chấp nhận sự thật đang diễn ra. Bản thân chị đã nhiều năm chịu đựng nhưng cho đến nay chị xác định không thể chịu đựng được nữa. Ngoài các nội dung mâu thuẫn nêu trên thì trong cuộc sống chung, anh T1 không có sự quan tâm, lo toan kinh tế của gia đình; mọi vấn đề liên quan đến chi phí cho cuộc sống chung đều một mình chị phải gách vác. Thời gian Tòa án đang giải quyết ly hôn thì con chung của vợ chồng bị ốm phải nằm điều trị tại bệnh viện Đ, bản thân anh T1 vẫn lên thăm con nhưng không có bất cứ khoản tài chính nào để chữa bệnh cho con mà vẫn phải do một mình chị chịu trách nhiệm. Từ tháng 7/2025 đến nay chị đã đưa con chung của vợ chồng về nhà đẻ sinh sống nên vợ chồng ly thân không ai quan tâm đến cuộc sống của ai nữa. Nay chị xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị và anh T1 không đạt được mục đích và không còn điều kiện để cải thiện nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có một con chung là Vũ Nguyễn Lan C, sinh ngày 02/8/2022 hiện đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng vì con chung còn quá nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Chị xác định hiện tại chị có đủ điều kiện để nuôi con nên chị tự nguyện không yêu cầu anh T1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung; vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng tài sản gì, vợ chồng không có công sức chung trong thời gian ở chung cùng gia đình anh T1 nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết những mối quan hệ này khi ly hôn.

Tại biên bản lấy lời khai anh Vũ Văn T1 trình bày: Anh và chị T đều là những người đã có gia đình nhưng đều đã ly hôn. Trên cơ sở tự nguyện, anh và chị T kết hôn với nhau và được UBND xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là xã B, thành phố Hải Phòng) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào 03/11/2021. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình mẹ đẻ anh tại thôn T; do khi ly hôn với chồng cũ chị T nuôi dưỡng cháu Nguyễn Viết Đăng K hiện tại bị khuyết tật đang ở tại Trung tâm bảo trợ xã hội, còn anh khi ly hôn với vợ cũ cũng phải nuôi dưỡng một con chung là cháu Vũ Vũ Hải A hiện đang học lớp 12. Ngoài ra, anh T1 xác định vợ chồng có một con chung là Vũ Nguyễn Lan C hiện còn nhỏ. Anh T1 xác định do trong cuộc sống chung giữa mẹ chồng, con riêng của chồng, con riêng của vợ và con chung của hai vợ chồng nên có nhiều vấn đề nảy sinh bất cập. Từ đó giữa mẹ anh, con riêng của anh với chị T có nhiều bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, bản thân anh cũng đã khuyên bảo chị T, đồng thời tìm nhiều biện pháp để cải thiện tình trạng đang diễn ra nhưng chị T là người tính tình ngang bướng, không nghe lời anh dẫn tới tình trạng mâu thuẫn chưa điều hòa được. Từ tháng 7/2025, chị T đã rời khỏi gia đình anh, đưa con chung của vợ chồng về nhà đẻ ở cùng thôn sinh sống. Anh T1 xác định từ khi chị T đưa con về nhà đẻ anh vẫn thường xuyên sang thăm, kinh tế vẫn chuyển hàng tháng cho chị T để nuôi con, mặt khác anh cũng đã bảo chị T quay về hoặc vợ chồng thuê nhà ở riêng nhưng chị T chưa đồng ý. Anh T1 thể hiện quan điểm không nhất trí ly hôn, anh T1 đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ và trong trường hợp chị T cương quyết xin ly hôn thì anh không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật để giải quyết.

Về con chung: Anh T1 xác định vợ chồng có một con chung là Vũ Nguyễn Lan C, sinh ngày 02/8/2022. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh đề nghị giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng vì anh cho rằng con chung còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Về vấn đề cấp dưỡng anh không yêu cầu giải quyết mà anh với chị T sẽ tự thỏa thuận với nhau.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Anh T1 xác định vợ chồng không có tài sản chung; vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng tài sản gì, vợ chồng không có công sức chung trong thời gian ở chung cùng gia đình anh nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết những mối quan hệ trong trường hợp vợ chồng ly hôn.

Tại biên bản làm việc với Trưởng thôn T, xã B, thành phố Hải Phòng xác định: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn T1 đều là công dân cư trú tại thôn T Bản thân chị T và anh T1 đều là những người đã từng ly hôn với chồng và vợ cũ sau đó mới kết hôn với nhau. Bản thân với vai trò là trưởng thôn nhưng đồng thời cũng là hàng xóm liền kề với gia đình anh T1, khi kết hôn với anh T1, chị T về chung sống cùng nhà với mẹ anh T1, trong quá trình chung sống tại địa phương bản thân chị T và anh T1 cũng có những mâu thuẫn xảy ra cãi vã, qua nội dung vợ chồng cãi vã có thể hiểu được rằng chị T là người quản lý kinh tế, tiền nong chặt chẽ còn anh T1 thì mải chơi và mắc tệ nạn xã hội, hơn nữa giữa chị T và con gái riêng của anh T1 với vợ cũ ở cùng nhà nên cũng xảy ra nhiều quan điểm bất đồng. Từ tháng 7/2025 cho đến nay thì chị T bỏ về nhà đẻ ở và vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Nay chị T đề nghị giải quyết ly hôn quan điểm của thôn đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật để giải quyết.

Đại diện VKSND khu vực 13-Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm; việc chấp hành pháp luật của bị đơn trong quá trình tố tụng còn chưa chấp hành đầy đủ.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 13-Hải Phòng giải quyết tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị với anh Vũ Văn T1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13-Hải Phòng.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện gửi và phối hợp với công an xã, trưởng thôn nơi anh T1 cư trú tiến hành giao các văn bản tố tụng và ghi quan điểm của anh T1. Anh T1 đã trình bày quan điểm và nhận các văn bản tố tụng nhưng mặc dù thể hiện quan điểm mong muốn Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng trên thực tế lại không đến Toà án làm việc. Do nguyên đơn chị T có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã phối hợp với trưởng thôn để giao cho anh T1 quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập đối với anh T1 đến tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng anh T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trước khi mở phiên tòa chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn trong vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị T và anh T1 kết hôn với nhau là tự nguyện, đủ điều kiện và có đăng ký là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian tồn tại quan hệ hôn nhân, vợ chồng nảy sinh nhiều quan điểm bất đồng trong cuộc sống chung dẫn tới cãi vã. Qua quan điểm trình bày của các bên cũng như nội dung xác minh tại chính quyền thôn, có đủ căn cứ để xác định nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc chị T với các thành viên khác của gia đình anh T1 không có sự đồng cảm. Đứng trước tình cảnh đó bản thân chị T cũng như anh T1 không có biện pháp gì để cải thiện dẫn tới tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, không điều hòa được. Bản thân chị T thì cương quyết xin ly hôn trong khi anh T1 là người không muốn ly hôn, mặc dù anh T1 đã thể hiện quan điểm đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng lại không có mặt khi Tòa án mở phiên hòa giải thể hiện ý thức bỏ mặc của anh T1 trong việc tích cực tìm biện pháp để cải thiện tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng. Về nguyên nhân và tình trạng mâu thuẫn đều được chị T và anh T1 thừa nhận nên đây là chứng cứ không phải chứng minh. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị là có thật, thời gian mâu thuẫn diễn ra đã lâu, từ tháng 7/2025 cho đến nay vợ chồng đã ly thân, thể hiện không còn sự thương yêu, quý trọng, quan tâm chăm sóc nhau vì mục đích chung của gia đình. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung:

Chị T và anh T1 có một con chung là Vũ Nguyễn Lan C, sinh ngày 02/8/2022. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, trong khi anh T1 có quan điểm nếu phải ly hôn anh cũng đồng ý để chị T được nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, cháu Vũ Nguyễn Lan C mới hơn 03 tuổi, kể từ khi vợ chồng ly thân vẫn do chị T trực tiếp nuôi dưỡng và chị T vẫn đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho con chung. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu này của chị T là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về vấn đề cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn Hội đồng xét xử thấy rằng, chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng trong khi anh T1 có quan điểm không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng mà sẽ tự thỏa thuận với chị T. Do vậy cần chấp nhận sự tự nguyện của chị T, không buộc anh T1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức:

Chị T và anh T1 đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng tài sản gì, vợ chồng không có công sức đóng góp với gia đình hai bên, đồng thời các bên đều không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết khi ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí:

Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí sơ thẩm dân sự ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

[6] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

XỬ: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn T1.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Vũ Nguyễn Lan C, sinh ngày 02/8/2022 cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Vũ Văn T1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung. Anh Vũ Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình, được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai ký hiệu BLTU/25E số 0002990 ngày 06/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng (chị T đã nộp đủ án phí).
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và bị đơn anh Vũ Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 13-Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - THA DS thành phố Hải Phòng;
  • - Phòng THADS khu vực 13-Hải Phòng;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Bắc Thanh Miện, thành phố Hải Phòng (để ghi vào sổ hộ tịch - GCNKH số 31 do UBND xã Lam Sơn, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương cấp ngày 03/11/2021);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu VP (HCTP).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Xuân Hiền

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thoan và anh Vũ Văn Thuận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger