TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-6-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Dung
Ông Đặng Bắc
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Hương Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Lan H, sinh năm 1998.
Nơi đăng ký thường trú: Xóm G, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở hiện nay: Xóm H, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh ngày 1993
Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm G, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang ở Đài Loan (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Triệu Thị Lan H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam và có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, năm 2019 anh chị phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, không cùng quan điểm về cách nuôi dạy con, cách sinh hoạt, không còn tin tưởng nhau, tình cảm vợ chồng đi xuống. Mặc dù anh chị đã nhiều lần nói chuyện nhưng không có kết quả. Chị H và anh N đã sống ly thân nhau từ năm 2020, từ tháng 6/2022 anh N đi lao động tại Đài Loan đến nay chưa về Việt Nam. Nay chị H xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Khánh Đ, sinh ngày 29/8/2018. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng: Chị H không đề nghị anh N cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản làm việc ngày 09/4/2025 giữa Tòa án và ông Trần Văn C, sinh năm 1968 và bà Lý Thị S, sinh năm 1972, địa chỉ: Xóm G, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên dưới sự chứng kiến của trưởng xóm, ông C và bà S xác định: Anh Trần Văn N là con trai của ông bà. Anh N hiện nay đang làm việc ở Đài Loan. Ông bà vẫn thường xuyên liên hệ với anh N qua điện thoại nhưng ông bà không biết địa chỉ hiện nay của anh N ở Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án. Chị H có đơn xin ly hôn, anh N có biết và trao đổi với ông bà về ý kiến của anh như sau: Trường hợp chị H muốn bỏ anh N thì anh N muốn nuôi con chung là cháu Trần Khánh Đ, sinh ngày 29/8/2018, không cần chị H cấp dưỡng. Ngoài ra anh N không có ý kiến gì khác. Ông C và bà S cho biết, quá trình chung sống tại gia đình, ông bà không thấy anh N và chị H xảy ra mâu thuẫn. Từ khi anh N đi nước ngoài khoảng 01 năm thì chị H đi làm công nhân và dọn ra ngoài sinh sống, thỉnh thoảng có về thăm cháu Đ. Hiện nay cháu Đ do ông C và bà S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi cháu Đ 02 tuổi, anh N vẫn gửi tiền về chăm sóc cháu Đ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo quy định của BLTTDS: Tiếp nhận đơn, thông báo nộp tạm ứng án phí, thông báo thụ lý vụ án và tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 37, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị Lan H, cho chị H được ly hôn với anh Trần Văn N. Về con chung: Giao con chung là Trần Khánh Đ, sinh ngày 29/8/2018 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không đề nghị anh N cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung xác định không có nên không giải quyết. Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Triệu Thị Lan H là nguyên đơn đang cư trú tại xóm G, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Anh Trần Văn N trước khi đi Đài Loan có nơi thường trú tại xóm G, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Theo công văn số 4311/PQLXNC (Đ1) ngày 25/10/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T xác định anh Trần Văn N đã xuất cảnh ngày 21/6/2022 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Anh N đã được tống đạt hợp lệ hai lần vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Triệu Thị Lan H và anh Trần Văn N trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, anh chị phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, không cùng quan điểm về cách nuôi dạy con, cách sinh hoạt, không còn tin tưởng nhau, tình cảm vợ chồng đi xuống. theo chị H thì vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Từ tháng 6 năm 2022 anh N đi lao động tại Đài Loan. Chị H xin ly hôn, anh N không có ý kiến về quan điểm xin ly hôn của chị H. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Triệu Thị Lan H và anh Trần Văn N đã trầm trọng, anh chị đã sống ly thân nhau nhiều năm, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Trần Văn N là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[3] Về con chung: Chị Triệu Thị Lan H và anh Trần Văn N có 01 con chung là Trần Khánh Đ, sinh ngày 29/8/2018. Quá trình giải quyết vụ án chị H và anh N đều có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay anh N đang ở nước ngoài, chị H đang ở Việt Nam. Chị H đã cung cấp tài liệu chứng cứ xác nhận của công ty nơi chị H đang làm viềc về mức thu nhập của chị H, tại phiên toà chị H xác định hiện nay chị H đang ở cùng với bố mẹ đẻ tại xóm H, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, có đủ điều kiện để trực tiếp chăm con chung. Do vậy để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử giao con chung Trần Khánh Đ, sinh ngày 29/8/2018 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên toà chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N do chị H không yêu cầu.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh N không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[7] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83 Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Thị Lan H đối với anh Trần Văn N.
- Về hôn nhân: Cho chị Triệu Thị Lan H được ly hôn anh Trần Văn N.
- Về con chung: Giao con chung Trần Khánh Đ, sinh ngày 29/8/2018 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Trần Văn N có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N do chị H không yêu cầu.
- Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Án phí: Chị Triệu Thị Lan H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000204 ngày 07/11/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Chị Triệu Thị Lan H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn N được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Hồng Phương |
Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 41 H N
