Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HIỆP

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày 06/6/2025

Về việc “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ái

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Ngọc The

2. Bà Nguyễn Thị Việt Tím

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Thiên Ân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 249/2024/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/ QĐXXST-HNGĐ ngày 28/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QÐST-HNGĐ ngày 16/5/2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Bùi Trần Thanh H, sinh năm 1983 (có mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  • * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1976 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Bùi Trần Thanh H trình bày: Tôi và anh Nguyễn Văn N chung sống với nhau vào ngày 08 tháng 01 năm 2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước khoảng 01 năm, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thẫn. Nguyên nhân là do anh N1 thường xuyên chơi cờ bạc cầm và bán ruộng đất cho đến khi không còn khả năng trả nợ nữa thì anh N bỏ đi, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, anh N không quan tâm đến vợ con, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, tôi có nguyên ngăn anh N nhiều lần nhưng anh N vẫn không thay đổi, vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 và tôi đã về nhà mẹ ruột tôi sống từ tháng 9 năm 2024 đến nay.

- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 04 con chung:

  1. Nguyễn Thị Thu Q, sinh ngày 24/6/2002.
  2. Nguyễn Hạ Trúc L, sinh ngày 04/3/2004
  3. Nguyễn Thành N2, sinh ngày 17/8/2007
  4. Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/8/2007

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại phiên tòa chị H yêu cầu:

  • Về quan hệ hôn nhân: chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
  • Về con chung: chị H xin nuôi cháu Đ, chị H đồng ý giao cháu N2 cho anh N nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu N2, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Q và cháu L đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh N vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt không lý do nên không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Trần Thanh H, cho ly hôn giữa chị Bùi Trần Thanh H và anh Nguyễn Văn N. Về con chung: Giao cháu Đ cho chị H chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; giao cháu N2 cho anh N chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn N với tư cách là bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay anh N vắng mặt. Xét thấy anh N đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh N vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hôn nhân hợp pháp, vì anh chị chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 03 Quyển số 01/2001, ngày 08/01/2001 theo đúng quy định của pháp luật. Phù hợp với Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được sửa đổi bổ sung năm 2010.

[3] Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị H cho thấy chị và anh N chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, chị H cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N thường xuyên cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường cự cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, vợ chồng không sống chung từ năm 2023 cho đến nay.

Sau khi thụ lý vụ án, tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ, nhưng anh N không đến Tòa án để tham gia tố tụng, vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh N và anh N cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.

Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”. Xét thấy giữa chị H và anh N không có tiếng nói chung trong cuộc sống, không cùng nhau chia sẻ trong cuộc sống gia đình, cuộc sống chung không có hạnh phúc, vợ chồng không sống chung với nhau đã một thời gian dài, không ai có ý muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng từ đó cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị H.

[4] Về con chung: chị H xác nhận chị và anh N có 04 người con chung là: Nguyễn Thị Thu Q, sinh ngày 24/6/2002; Nguyễn Hạ Trúc L, sinh ngày 04/3/2004; Nguyễn Thành N2, sinh ngày 17/8/2007; Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/8/2007

Tại phiên toà chị H yêu cầu được nuôi cháu Đ, chị H đồng ý giao cháu N2 cho anh N nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Q và cháu V đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét yêu cầu của chị H xin được nuôi cháu Đ và giao cháu N2 cho anh N nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các cháu, mặt khác anh N cũng không có ý kiến gì về việc chị H xin được nuôi cháu Đ vào giao cháu N2 cho anh N nuôi dưỡng, nên yêu cầu của chị H là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/8/2007 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Thành N2, sinh ngày 17/8/2007 cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Không ai có quyền cản trở việc tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Đối với cháu Nguyễn Thị Thu Q, sinh ngày 24/6/2002 và Nguyễn Hạ Trúc L, sinh ngày 04/3/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: chị H xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp, có cơ sở chấp nhận theo đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí HNST: Buộc chị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào các Điều 28, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Trần Thanh H. Cho ly hôn giữa chị Bùi Trần Thanh H và anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung:
    • - Giao cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/8/2007 cho chị Bùi Trần Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
    • - Giao cháu Nguyễn Thành N2, sinh ngày 17/8/2007 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng.
    • Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Không ai được quyền cản trở việc tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
    • - Cháu Nguyễn Thị Thu Q, sinh ngày 24/6/2002 và Nguyễn Hạ Trúc L, sinh ngày 04/3/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Bùi Trần Thanh H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0007055 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - VKSND huyện Tân Hiệp;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hiệp;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - UBND xã Thạnh Đông B;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Ngọc Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H yêu cầu được ly hôn và xin nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger