Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05-3-2025

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chí Lin;
  2. Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1262/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thi Thị Kim N, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

(bà N có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thi Thị Kim N trình bày tóm tắt như sau: Do quen biết và được hai bên gia đình đồng ý nên vào năm 2011 bà và ông Võ Văn T đã xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 17/5/2021.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, ông T còn nhiều lần đánh bà, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn. Nay bà N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống bà N và ông T có 04 con chung tên Võ Thị Thảo V, sinh ngày 07/6/2013, Võ Quốc D, sinh ngày 26/4/2016, Võ Thị Nhã K, sinh ngày 20/4/2017 và Võ Nhã P, sinh ngày 03/02/2019. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được nuôi 04 con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi con chung là 1.000.000đồng/tháng.

Về tài sản chung: bà Thi Thị Kim N xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: bà Thi Thị Kim N xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Võ Văn T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa nên không có có ý kiến trình bày.

Tại bản tự khai ngày 07/11/2024 của cháu Võ Thị Thảo V, Võ Quốc D và Võ Thị Nhã K có ý kiến trong trường hợp cha mẹ ly hôn thì nguyện vọng của các cháu là được sống với mẹ.

Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho ông Võ Văn T theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông T biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà N nhưng ông T không tham gia hòa giải, nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Võ Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết theo đơn khởi kiện của bà N và xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Thi Thị Kim N bận đi làm nên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án quyết định xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: bà Thi Thị Kim N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn T. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” và thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự trong vụ án: bà Thi Thị Kim N bận đi làm và có đơn đề nghị xử vắng mặt; ông Võ Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo quy định khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Thi Thị Kim N và ông Võ Văn T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 17/5/2021 (Giấy đăng ký số 60/2021) nên quan hệ hôn nhân giữa bà Thi Thị Kim N và ông Võ Văn T là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Thi Thị Kim N đối với ông Võ Văn T, thấy rằng: bà N trình bày cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, ông T còn nhiều lần đánh bà, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn. Bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên xin ly hôn với ông T. Đối với ông T, từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông T đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định, biết được yêu cầu khởi kiện của bà N nhưng ông T không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà N. Tại phiên tòa, ông T vẫn vắng mặt, chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà N. Xét thấy, hai bên hiện đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không còn thiết tha vun đắp cuộc sống chung của vợ chồng để cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thi Thị Kim N.

[2.3] Về nuôi con chung: Quá trình chung sống bà N và ông T có 04 con chung tên Võ Thị Thảo V, sinh ngày 07/6/2013, Võ Quốc D, sinh ngày 26/4/2016, Võ Thị Nhã K, sinh ngày 20/4/2017 và Võ Nhã P, sinh ngày 03/02/2019. Xét thấy, các cháu hiện do bà N đang nuôi dưỡng và các cháu V, D, K có nguyện vọng là muốn sống cùng với mẹ. Ông T vắng mặt không có ý kiến gì về con chung. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các cháu, nên căn cứ vào Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cần giao các cháu V, D, K, P cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi bà N và ông T ly hôn.

[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: bà N yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 04 con chung, mỗi con chung là 1.000.000đồng/tháng. Ông T không có ý kiến gì đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con và yêu cầu của bà N là phù hợp với quy định tại Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó cần buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 04 con chung, mỗi con chung là 1.000.000đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi bốn con chung đủ 18 tuổi.

[2.5] Về tài sản chung: bà N xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Về nợ chung: bà N xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Võ Văn T vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến về tình cảm, con chung, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết. Trường hợp sau này giữa bà N và ông T có phát sinh tranh chấp về con chung, cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung thì các bên được quyền khởi kiện để giải quyết trong một vụ án khác.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc nguyên đơn bà Thi Thị Kim N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn. Ông T phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thi Thị Kim N về việc “Ly hôn” đối với ông Võ Văn T.

  1. Về hôn nhân: bà Thi Thị Kim N được ly hôn với ông Võ Văn T.
  2. Về quyền nuôi con chung: bà Thi Thị Kim N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Thị Thảo V, sinh ngày 07/6/2013, Võ Quốc D, sinh ngày 26/4/2016, Võ Thị Nhã K, sinh ngày 20/4/2017 và Võ Nhã P, sinh ngày 03/02/2019.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: ông Võ Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi bốn con chung, mỗi con chung là 1.000.000đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi bốn con chung đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.

Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung: bà N xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về nợ chung: bà N xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: bà Thi Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006214 ngày 28/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An sang án phí để thi hành. Bà Thi Thị Kim N đã nộp đủ án phí. Ông Võ Văn T phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Kim Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thi Thị Kim N ly hôn Võ Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger