TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ *** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 4 - 2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trãi;
Bà Ngô Thị Út Hậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký viên Tòa án nhân Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 247/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST - HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, TP ..
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1981.
Địa chỉ: C khu V, phường T, quận Ô, TP .. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày: Qua thời gian tìm hiểu, bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Bùi Văn T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 1997 có tổ chức đám cưới nhưng chưa có đăng ký kết hôn. Đến ngày 26/10/2012 thì cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận Ô, TP .. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau về tiền bạc và tình cảm vợ chồng, ông T1 nhiều lần dùng vũ lực đánh đập bà T. Mặc dù, bà T nhẫn nhịn để mưu cầu hạnh phúc gia đình, nhưng không có kết quả. Từ đó, tình cảm rạn nứt, hôn nhân không hạnh phúc. Nên, bà T xin ly hôn với ông T1.
Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 con chung là Bùi Thị N (nữ), sinh ngày 23/11/2000 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, không khai chứng cứ vào hòa giải, nhưng ông Bùi Văn T1 vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được, vụ án được đưa ra xét xử vụ án theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Bùi Văn T1, tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà T có đơn xin ly hôn với ông T1, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tranh chấp này, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn quận Ô, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với ông T1, nhưng ông T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, bà T có đơn xin xét xử vắng mặt nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T1 và bà T theo định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND phường T, quận Ô, TP . vào ngày 26/10/2012, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà T cho rằng từ đầu năm 2020, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau về tiền bạc và tình cảm vợ chồng, ông T1 nhiều lần dùng vũ lực đánh đập bà T. Mặc dù, bà T nhẫn nhịn để mưu cầu hạnh phúc gia đình, nhưng không có kết quả. Từ đó, tình cảm rạn nứt, hôn nhân không hạnh phúc. Nên, bà T xin ly hôn với ông T1. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập nhiều lần, nhưng ông T1 vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà T. Điều đó chứng tỏ, ông T1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà T, mâu thuẫn vợ chồng giữa các đương sự đã thật sự sâu sắc, trầm trọng, mục đích hôn nhân là hạnh phúc không đạt được. Nên, yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông T1 là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 con chung là Bùi Thị N (nữ), sinh ngày 23/11/2000, đã trưởng thành. Nên không xem xét.
[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Do ông T1 vắng mặt, nên chưa ghi nhận được ý kiến của ông T1 về vấn đề này. Nên, tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp.
[6] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng T đối với ông Bùi Văn T1.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với Bùi Văn T1.
Về con chung: Bùi Thị N (nữ), sinh ngày 23/11/2000, đã trưởng thành. Nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai số 0002283 ngày 03/12/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Kiệt |
Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho ly hôn
