|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04/4/2025.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hồng Tâm và bà Mai Thị Thanh Thảo.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Tôn Thất Nhật Tài - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H; kết nối xét xử trực tuyến với điểm cầu thành phần tại Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt (tại điểm cầu thành phần).
Bị đơn: Lê Văn K, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/01/2025, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn trình bày như sau:
Chị Nguyễn Thị Kim C và anh Lê Văn K tìm hiểu nhau một thời gian rồi tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 17/8/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu xảy nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Đến cuối năm 2019, sau nhiều lần xung đột, hai người đã sống ly thân với nhau cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm và chăm sóc đến nhau nữa, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị C xin được ly hôn với anh K.
Về con chung, chị C trình bày vợ chồng có 02 con chung là Lê Nguyễn Hà M, sinh ngày 08/11/2016 và Lê Nguyễn Hà A, sinh ngày 14/10/2018. Hiện nay cả 02 con đều đang được chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con Lê Nguyễn Hà M và Lê Nguyễn Hà A cho đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi, không yêu cầu bị đơn phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị C trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh K về việc chị C xin ly hôn và tranh chấp nuôi con. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định anh K không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã nhiều lần thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh K đều vắng mặt.
Kết quả xác minh, chính quyền địa phương cho biết, anh K đăng ký thường trú tại thôn V, xã P, huyện P, thành phố H. Về quan hệ hôn nhân thì chị chi và anh K là vợ chồng hợp pháp, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân; về con chung có 02 người con như chị C trình bày. Ủy ban nhân dân xã đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và cử cán bộ giao cho anh K, có liên lạc với anh K nhưng bị đơn không hợp tác.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/02/2025 của bà Lê Thị H là mẹ ruột của anh Lê Văn K, bà H khai quá trình chung sống giữa anh K và chị C có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Chị C hiện đang trực tiếp nuôi 02 con chung. Các văn bản tố tụng của Tòa án bà nhận và giao cho anh K nhưng bị đơn đều vắng mặt tại Tòa án.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được do bị đơn vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về án phí đề nghị xử buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Bởi vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim C và anh Lê Văn K chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về quá trình hôn nhân giữa chị C và anh K, Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vả, xác phạm lẫn nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau, không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Do đó, chị C và anh K đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần hòa giải nhưng không được do bị đơn vắng mặt. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[2.2] Về con chung: Chị C và anh K có 02 con chung là Lê Nguyễn Hà M, sinh ngày 08/11/2016 và Lê Nguyễn Hà A, sinh ngày 14/10/2018. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 02 con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay chị C đang có chỗ ở và thu nhập ổn định, cháu Lê Nguyễn Hà M có nguyện vọng được ở cùng với chị C và cháu Lê Nguyễn Hà A đang còn nhỏ cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ nên cần giao cả 02 con cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho nguyên đơn về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Chị C trình bày chị có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim C, tuyên xử Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với anh Lê Văn K.
Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Giao 02 con Lê Nguyễn Hà M, sinh ngày 08/11/2016 và Lê Nguyễn Hà A, sinh ngày 14/10/2018 cho chị Nguyễn Thị Kim C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Anh Lê Văn K không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
-
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử buộc chị Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị C đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002507 ngày 16/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang, thành phố H.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Sang |
Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp xin ly hôn
