|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập–Tự do–Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST
Ngày 01 - 4 - 2025
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- -Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng.
- -Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
- Ông Nguyễn Văn Trước.
- -Thư ký phiên toà: Bà Trần Mỹ Huyền – Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
- -Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Long Hồ: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm thụ lý số: 603/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024, về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1988 ( có mặt).
Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Bị đơn: Chị Phạm Thị Như N, sinh năm: 1994 ( vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Thanh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Qua quen biết anh và chị Ngọc T đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào năm 2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 12/2020 xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên anh chị sống ly thân từ tháng 12/2020 cho đến nay. Tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh yêu cầu ly hôn với chị N.
Về con chung: Có 03 con chung tên là Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 08/12/2015, Nguyễn Khánh D sinh ngày 24/6/2017, Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 26/7/2019. Hiện đang chung sống với anh. Khi ly hôn anh yêu cầu nuôi 03 con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, về nợ chung: Anh không yêu cầu giải quyết.
-Bị đơn là chị Phạm Thị Như N vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng không bản khai ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-Ý kiến của cháu Nguyễn Thị Trúc L và cháu Nguyễn Khánh D: Hai cháu là con của anh Nguyễn Thanh H và chị Phạm Thị Như N. Hiện hai cháu sống chung với cha. Khi cha mẹ ly hôn nguyện vọng của hai cháu là sống cùng với cha.
-Ý kiến của anh H tại phiên tòa: Anh vẫn bảo lưu yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Bị đơn là chị Phạm Thị Như N đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[1.2]. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con, đây là tranh chấp về ly hôn và nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có địa chỉ tại khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Xét về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị Ngọc T đến hôn nhân được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71 cấp ngày 22/10/2015. Do đó hôn nhân của anh H và chị N là hôn nhân hợp pháp.
[3]. Xét về yêu cầu ly hôn: Anh H trình bày trong thời gian chung sống do bất đồng quan điểm nên từ năm 2020 anh H và chị N không còn chung sống với nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thời gian đã lâu, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên tòa anh không muốn đoàn tụ cùng với chị N. Đối với bị đơn đã được tòa án thông báo về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn nhưng bị đơn không ý kiến, xem như bị đơn đồng ý với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Do đó yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.
[4]. Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Trúc L, Nguyễn Khánh D, Nguyễn Thanh T1 hiện do anh H nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu L và cháu D là được chung sống cùng với cha. Chị N không có ý kiến về yêu cầu nuôi con của anh H. Do đó giao cháu L, cháu D và cháu T1 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng.
[5]. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về tài sản chung, về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Thanh H được ly hôn với chị Phạm Thị Như N.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 08/12/2015, Nguyễn Khánh D sinh ngày 24/6/2017, Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 26/7/2019 cho anh Nguyễn Thanh H tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Trúc L, cháu Nguyễn Khánh D. Chị Phạm Thị Như N có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom và chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc nguyên đơn nộp 300.000 đồng ( Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nguyên đơn đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai số 0001700 ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ nên được khấu trừ.
- Quyền kháng cáo: Án xử có mặt nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Công Bằng |
Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cháp nhận yêu cầu của nguyên đơn
