| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
|
Bản án số: 41/2025/HNGĐ-PT Ngày 19/11/2025 V/v: Chia tài sản sau ly hôn |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông
Bà Vương Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2025/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc “Chia tài sản sau ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 14/2025/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 64/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
- Bị đơn: Ông Trương Văn O, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn C, xã P, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: (đều vắng mặt)
- Bà Dương Thị T, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh;
- Chị Trương Thị M1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh;
- Anh Trương Công T1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn C, xã P, tỉnh Bắc Ninh; hiện tạm trú: số E đường L, phường T, thành phố Hồ Chí Minh;
- Anh Trương Văn H, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn C, xã P, tỉnh Bắc Ninh;
- Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện T, UBND xã P (cũ) là Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H1, Chủ tịch UBND xã.
Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Đỗ Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:
* Nguyên đơn là bà Đỗ Thị M trình bày: Ông O kết hôn với bà Dương Thị T và chung sống đến năm đến năm 2001 thì ly hôn. Năm 2002, ông O kết hôn với bà, đến năm 2023 thì vợ chồng ly hôn; tại quyết định số 132 ngày 30/8/2023 Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã công nhận việc thuận tình ly hôn của bà và ông O nhưng chưa giải quyết tài sản.
Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung của bà và ông O tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân gồm:
- Thửa đất số 35 tờ bản đồ số 25, diện tích 1.344m² (đất ở là 400m², đất vườn 944m²) địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Đất đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là QSDĐ) ngày 28/12/2000 mang tên hộ ông Trương Văn O, nguồn gốc đất do bố mẹ đẻ ông O để lại. Tài sản trên đất là nhà ở cấp bốn của ông O và bà T xây dựng từ trước. Bà có sửa sân và mua 5000 gạch, vôi, cát để xây bếp hết khoảng 6 đến 7 triệu đồng, hiện tại không còn bếp vì ông O đã phá.
- 03 thửa ruộng Bãi Lái, Hố Trẹo, Cửa Sinh bà và ông O vẫn đang làm chưa đổi cho ai. 3. Chia số cây vải trên thửa đất số 35 và trên 02 thửa ruộng Hố Trẹo, Cửa Sinh. Bà xác định toàn bộ tài sản trên là tài sản chung vợ chồng, bà đề nghị chia đôi đất và tài sản trên đất cho mỗi người một nửa. Ngoài ra, bà đề nghị được sử dụng 03 thửa ruộng Bãi Lái, Hố Trẹo, Cửa Sinh và không đồng ý chia cho ông O, vì ông O đã bán định suất của ông O rồi. Trong thời gian chung sống, bà làm y sĩ ở trạm xá, có tiền lương hàng tháng sửa nhà trồng cây, làm nông nghiệp nuôi ông O và 2 con của ông O từ năm 2002 đến khi các con riêng của ông O trưởng thành, dựng vợ, gả chồng. Khi lấy ông O năm 2002, bà không chuyển khẩu về nhà ông O mà vẫn giữ nhân khẩu tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Bà được chia 1,5 sào ruộng ở thôn T, xã N. Hiện bà sinh sống và xây nhà ở N.
* Bị đơn là ông Trương Văn O trình bày: Khoảng cuối năm 2002 ông kết hôn với bà M, đến năm 2023 thì ly hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung. Ông xác định đất, tài sản trên đất và đất ruộng là của ông không liên quan đến bà M nên không đồng ý chia cho bà M. Cụ thể: 1. Đất ở: Thửa đất số 35 tờ bản đồ số 25, diện tích 1.344m² (đất ở là 400m², đất vườn 944m²); địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Đất đã được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 28/12/2000 mang tên hộ ông Trương Văn O (viết tắt là thửa đất số 35), nguồn gốc do bố mẹ ông để lại. Tài sản trên đất có 01 nhà cấp 4 lợp ngói do ông và bà T (là vợ trước) xây từ năm 1999 đến nay không sửa chữa lần nào, hiện do ông sử dụng. 2. Đất ruộng: Có 03 thửa gồm: Thửa số 160, tờ bản đồ số 17 thuộc xứ đồng Hố Trẹo (viết tắt là thửa số 160); thửa số 161, tờ bản đồ 17 thuộc xứ đồng Bãi Lái (viết tắt là thửa số 161); thửa số 245, tờ bản đồ số 16 thuộc xử đồng Cửa Sinh (viết tắt là thửa số 245), đều có địa chỉ tại thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang) là của ông, bà T và các con của bà T, không phải là định suất ruộng của bà M. Vì bà M chưa nhập khẩu vào hộ gia đình ông.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là:
- Bà Dương Thị T trình bày: Bà và ông O kết hôn năm 1985, đến năm 2000 thì ly hôn. Trong thời gian chung sống tại thửa đất số 35 bà có đóng góp xây dựng nhà trên đất, nguồn gốc đất là do bố mẹ ông O để lại. Hiện bà đã ly hôn với ông O nên không còn liên quan và bà không yêu cầu gì về tài sản. Bà xin vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử của Tòa án.
- Chị Trương Thị M1 trình bày: Chị là con ông O và bà T, chị sinh ra và lớn lên tại thửa đất số 35, đất là của ông bà nội để lại cho bố chị. Năm 2000, bố mẹ chị ly hôn, năm 2001 bố chị và bà M kết hôn nên chị xác định đất là của bố mẹ chị chứ không phải của bà M, chị không đồng ý chia cho bà M. Năm 2012 chị đi lấy chồng, trong thời gian ở cùng gia đình chị không có đóng góp gì nên không yêu cầu chia.
- Anh Trương Công T1 trình bày: Anh là con trai ông O, bà T, anh sinh ra và lớn lên tại thửa số 35, đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ ông O từ năm 2000. Sau khi bố mẹ anh ly hôn năm 2001 thì năm 2002 bố anh kết hôn với bà M. Khi về sống chung bà M không mua thêm phần đất nào mà sống cùng bố con anh cho đến khi ly hôn.
Đối với các thửa ruộng số 160, 161 và 245 là định xuất của bố mẹ anh cùng các con, bà M không có định xuất nên anh không đồng ý chia cho bà M. Anh không đóng góp vào khối tài sản của ông O nên không yêu cầu chia.
- Anh Trương Văn H trình bày: Anh là con ruột của ông O và bà M. Thửa đất số 35 có nguồn gốc là của ông bà nội để lại cho bố anh. Thời điểm năm 2000 thì anh chưa được sinh ra nên không thuộc thành viên được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ. Anh xác định đất là của bố anh. Đối với các thửa ruộng mà mẹ anh yêu cầu chia thì anh xác định không có định xuất vì ruộng được chia từ năm 1993, anh không liên quan đến đất ở, tài sản trên đất và đất ruộng nên không yêu cầu.
- Ông Nguyễn Mạnh L đại diện Ủy ban nhân dân xã P trình bày: Thửa đất số 35 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 28/12/2000 mang tên hộ ông Trương Văn O, nguồn gốc đất do bố mẹ ông O để lại. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận trên đất có ông O, cháu T1, cháu M1. Tại thời điểm năm 1999 hộ ông O được cấp tổng số 11 thửa ruộng, những thửa này đều được chia từ năm 1993 đến năm 1999 thì được ghi trong sổ ruộng đất. Đây là định xuất cho các thành viên trong hộ ông O tại thời điểm chia. Bà M kết hôn với ông O năm 2002 nên không có trong hộ khẩu và không thuộc định suất chia ruộng, diện tích các thửa giảm là do sai số đo đạc.
Với nội dung trên, bản án sơ thẩm số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 18/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh đã căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 212, Điều 213, Điều 219, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 33, Điều 59, Điều 61, Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 2, Điểm b khoản 5, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị M về chia thửa đất số 35 tờ bản đồ số 25, diện tích 1.344m² (đất ở là 400m², đất vườn 944m²) đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 28/12/2000 cho hộ ông Trương Văn O và tài sản trên đất gồm: Nhà cấp 4 cũ: 38.008.000đ; các thửa đất ruộng gồm thửa số 161, tờ bản đồ 17 thuộc xứ đồng Bãi Lái; thửa số 160, tờ bản đồ số 17 thuộc xứ đồng Hố Trẹo; thửa số 245, tờ bản đồ số 16 thuộc xử đồng Cửa Sinh. Địa chỉ các thửa đất: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà M, chia tài sản sau khi ly hôn giữa bà M với ông O:
Giao cho ông O quản lý, sử dụng các tài sản cây cối trên đất theo kết quả định giá tài sản ngày 15/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên là số cây vải trên thửa đất số 35 tờ bản đồ số 25, diện tích 1.344m² (đất ở là 400m², đất vườn 944m²), địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T và số cây vải trên 02 thửa ruộng Hố Trẹo, Cửa Sinh, tổng giá trị cây là 100.021.000 đồng.
Buộc ông O trích chia cho bà M số tiền là 60.010.500 đồng, (gồm tiền chia tài sản chung là 50.010.500 đồng và tiền công đóng góp, chăm sóc bảo quản tài sản là 10.000.000 đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05/9/2025, bà Đỗ Thị M kháng cáo toàn bộ bản án đề nghị cấp phúc thẩm chia đất ở và đất vườn cho bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đỗ Thị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; các đương sự không hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đỗ Thị M, sửa bản án sơ thẩm về công sức. Buộc ông O trích chia công sức cho bà M khoảng 40 – 50 triệu đồng. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí: Bà Đỗ Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Đỗ Thị M nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Nội dung: Bà Đỗ Thị M và ông Trương Văn O đã tự nguyện kết hôn năm 2002 và ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 132/QĐ ngày 30/8/2023 Tòa án nhân dân huyện Tân Yên. Ngày 09/12/2024, bà M có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bà Đỗ Thị M, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Đối với thửa đất số 35:
Nguồn gốc thửa đất số 35 là do bố mẹ ông O để lại; đất đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 28/12/2000 cho hộ ông Trương Văn O. Tài sản trên đất là nhà ở cấp bốn do ông O và bà T xây dựng.
Nội dung này được bà M, ông O cùng các con của ông O thừa nhận. Vì vậy, được coi là chứng cứ theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự nên không phải chứng minh.
Năm 2002, bà M kết hôn với ông O. Quá trình chung sống từ khi kết hôn cho đến khi vợ chồng ly hôn là năm 2023 thì ông O không thay đổi, bổ sung giấy chứng nhận QSDĐ mà vẫn giữ nguyên giấy chứng nhận QSDĐ cấp ngày 28/12/2000. Như vậy, thửa đất trên là tài sản hình thành trước khi ông O kết hôn với bà M, không phải là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bà M và ông O nên không phải là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 35 là tài sản riêng của ông O là có căn cứ.
Đối với các công trình trên đất gồm: Nhà cấp 4 cũ xây năm 1994; nhà cấp 4 mới, mái vảy (bán mái loại 3 chống nóng), chuồng nuôi loại C, sân bê tông và đường bê tông đều làm năm 2024 và 2025. Thời gian xây dựng các công trình trên được các đương sự xác nhận tại Biên bản thẩm định tài sản ngày 25/4/2025. Như vậy, các tài sản trên đất không được hình thành trong thời kỳ hôn nhân mà là tài sản riêng của ông O có trước khi kết hôn (năm 2002) và sau khi ly hôn (năm 2023) với bà M. Do đó, cấp sơ thẩm không chia giá trị tài sản trên đất cho bà M là phù hợp.
Bà M trình bày đã mua vật liệu để xây bếp, sửa sân nhưng không còn bếp, ông O không thừa nhận việc xây sửa trên, ngoài lời trình bày thì bà M không có chứng cứ chứng minh. Do vậy, không có căn cứ để xác định giá trị tài sản chung là của vợ chồng để chia.
[3.2] Đối với 03 thửa đất ruộng là các thửa số 160, 161, 245:
Theo kết quả xác minh thì 03 thửa đất trên diện tích bị giảm là do sai số đo đạc. Thửa số 161, diện tích 192m² (kết quả đo 117,9m²); thửa số 160, tờ diện tích 454m² (kết quả đo 440,5m²); thửa số 245, diện tích 256m² (kết quả đo 195,1m²). Cả ba thửa được ghi trong sổ địa chính năm 1999, chủ sử dụng là ông Trương Văn O, được chia cho các thành viên gia đình ông O.
Căn cứ vào thời điểm chia ruộng và qua xác minh tại địa phương thì 03 thửa ruộng trên được chia cho các thành viên hộ ông O trước thời điểm bà M kết hôn với ông O. Sau khi kết hôn, bà M không chuyển khẩu về nhà ông O mà vẫn giữ nguyên hộ khẩu tại thôn T, xã N nên bà M được chia 1,5 sào ruộng tại thôn T, xã N. Vì vậy, bà M không có hộ khẩu và không được chia ruộng tại thôn C, xã P. Cấp sơ thẩm xác định các thửa số 160, 161, 245 được hình thành trước hôn nhân nên không phải là tài sản chung của ông O và bà M là có căn cứ.
[3.3] Tài sản chung: Trong thời gian chung sống bà M và ông O có trồng cây trên đất, ông O cũng xác định toàn bộ cây cối trên đất là tài sản chung của ông và bà M. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã định giá toàn bộ cây cối trên các thửa đất và chia cho bà M, ông O mỗi người ½ giá trị cây cối trên đất tương đương 50.010.500đ là phù hợp.
[3.4] Về công sức: Bà M và ông O chung sống với nhau 20 năm. Quá trình chung sống, bà M đã cùng ông O nuôi dưỡng hai con riêng của ông O trưởng thành, ngoài ra còn có công quản lý, duy trì tài sản của ông O. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm buộc ông O trích chia công sức cho bà M 10.000.000₫ là chưa đảm bảo quyền lợi cho bà M. Tại phiên tòa phúc thẩm bà M đề nghị trích chia công sức bằng đất không đồng ý nhận bằng tiền. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ sau ly hôn cần sửa án sơ thẩm về công sức, buộc ông O trích chia công sức cho bà M khoảng 50.000.000đ là phù hợp.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị M về tài sản; sửa bản án sơ thẩm về công sức.
Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên bà Đỗ Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị M về tài sản; sửa bản án sơ thẩm về công sức.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 212, Điều 213, Điều 219, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 33, Điều 59, Điều 61, Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 2, Điểm b khoản 5, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M đề nghị chia: - Thửa đất số 35 tờ bản đồ số 25, diện tích 1.344m² (đất ở là 400m², đất vườn 944m²) đã được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/12/2000 cho hộ ông Trương Văn O cùng tài sản trên đất là nhà cấp 4 cũ.
- - Các thửa đất ruộng gồm: Thửa số 161, tờ bản đồ 17 thuộc xứ đồng Bãi Lái; thửa số 160, tờ bản đồ số 17 thuộc xứ đồng Hố Trẹo; thửa số 245, tờ bản đồ số 16 thuộc xử đồng Cửa Sinh. Địa chỉ các thửa đất: Cả A, xã P, huyện T tỉnh Bắc Giang.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M đề nghị chia tài sản sau khi ly hôn giữa bà Đỗ Thị M với ông Trương Văn O:
- - Giao cho ông Trương Văn O quản lý, sử dụng các tài sản cây cối trên đất theo kết quả định giá tài sản ngày 15/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên là số cây vải trên thửa đất số 35 tờ bản đồ số 25, diện tích 1.344m² và số cây vải trên 02 thửa ruộng Hố Trẹo, Cửa Sinh, tổng giá trị cây là 100.021.000 đồng.
- - Buộc ông Trương Văn O trích chia cho bà Đỗ Thị M là 100.010.500đ (Một trăm triệu không trăm mười nghìn năm trăm đồng) (bao gồm: Tiền chia tài sản chung là 50.010.500đ và tiền công sức là 50.000.000₫).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 - Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
4. Chi phí tố tụng:
- - Bà Đỗ Thị M phải chịu 5.000.000 đồng (xác nhận bà M đã nộp đủ).
- - Ông Trương Văn O phải chịu 4.000.000 đồng. Bà M đã tạm ứng số tiền trên nên ông O phải trả bà M là 4.000.000 đồng.
5. Án phí:
- - Bà Đỗ Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà M phải chịu 5.000.525 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 6.600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003290 ngày 09/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên và biên lai thu số 0000583 ngày 10/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Hoàn trả bà M số tiền 1.599.475 đồng.
- - Ông Trương Văn O được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuyết Mai |
Bản án số 41/2025/HNGĐ-PT ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về chia tài sản sau ly hôn
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đỗ Thị M khởi kiện chia tài sản chung sau ly hôn với ông Trương Văn O
