TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 41/2025/DS-ST Ngày: 28/05/2025 V/v: Kiện đòi tiền. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Phượng
2. Ông Luân Văn Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Hoàng Yến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 89/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Kiện đòi tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2025/QĐXXST- DS ngày 15 tháng 05 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Kim C (tên gọi khác Thạo) – sinh năm 1964 Địa chỉ: SN B, tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt tại phiên tòa)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H – sinh năm 1969 Địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện bà Bùi Kim C trình bày:
Về quan hệ: Tôi và bà Nguyễn Thị Thu H có họ hàng xa. Ngày 10/11/2014, bà Đỗ Thị L dẫn bà Nguyễn Thị Thu H xuống vay tiền tôi để trả tiền cho bà L với số tiền vay là 160 triệu đồng. Tôi nhất trí cho bà H vay, khi vay hai bên có lập giấy vay tiền, thỏa thuận lãi suất là 3% một tháng. Không hẹn thời gian trả có bà L làm chứng nhưng bà L không ký vào giấy vay tiền. Tôi đã đưa đủ cho bà hằng 160 triệu đồng. Sau khi vay, bà hằng đã trả lãi cho tôi 3 tháng. Sau đó bà H không trả lãi được khoản nào nữa.
Đến ngày 16/12/2014 âm lịch (tức ngày 06/01/2015 dương lịch) bà H tiếp tục vay tôi số tiền 70 triệu đồng, 2 bên thỏa thuận hẹn một tháng trả. Bà H trả cho tôi một tháng tiền lãi sau đó bà H không trả được cho tôi khoản nào nữa.
Đến ngày 29/12/2014, bà H tiếp tục vay tôi số tiền 160 triệu đồng khi vay có lập giấy vay tiền, thời hạn vay một năm trở lên. Lần vay này, bà H thế chấp cho tôi một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy vay tiền có xác nhận của UBND thị trấn T. Số tiền vay này bà H chưa trả được cho tôi khoản nào.
Hôm nay, tôi yêu cầu bà H trả cho tôi số tiền gốc 390 triệu đồng.Đối với 2 khoản vay mượn trong 160 triệu đồng lần đầu và 70 triệu đồng, tôi yêu cầu tính lãi suất 1,66% kể từ ngày cho vay trừ đi 3 tháng tiền lãi, bà H đã trả.Với khoản vay 160 triệu đồng lần 3, tôi yêu cầu lấy đất nông nghiệp làm mảnh đất đã được bà H thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại bản tự khai và tại các buổi hoà giải bà C rút một phần đơn khởi kiện theo đó bà C không yêu cầu Toà án giải quyết đối với khoản vay 160 triệu đồng vay ngày 10/11/2014. Còn 2 khoản vay còn lại bà vẫn giữ nguyên yêu cầu. Về lãi suất bà đề nghị áp dụng lãi suất là 13,5%/năm đối với các khoản vay trên. Về thời gian bắt đầu tính lãi, khoản vay 160 triệu thì bà H đã trả lãi đến tháng 8/2015 (âm lịch), thời gian bắt đầu tính lãi từ tháng 9/2015 (âm lịch), khoản vay 70 triệu thì bắt đầu tính lãi từ tháng 3/2015 âm lịch cho đến ngày xét xử.
Tại đơn trình bày ngày 25/12/2024, bản tự khai ngày 20/01/2025 và tại các buổi hoà giải bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Tôi có vay bà Bùi Kim C tại tổ B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng với tổng số tiền là 230 triệu đồng. Chia thành 2 lần.
Lần vay thứ nhất, tôi có vay bà C 160 triệu đồng giữa 2 bên lập một giấy vay tiền, trên giấy vay tôi có ghi số tiền vay là 160 triệu đồng kèm theo đó là thế chấp một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ bà Nguyễn Thị Thu H. Cho đến nay C vẫn đang lưu giữ. Hai bên thỏa thuận là mỗi tháng sẽ trả cho bà C số tiền lãi 4.800.000 đồng. Để tiện cho việc theo dõi trả lãi hàng tháng, bà Bùi Kim C yêu cầu tôi viết vào sổ cá nhân số tiền 160 triệu đồng và sổ cá nhân theo ngày âm để mỗi lần trả lãi sẽ ký tên vào đó do chủ quan nên ở dưới bà C cắt đi là ghi ngày dương còn ở sổ để trả lãi ghi ngày âm.
Lần vay thứ 2 là 70 triệu đồng và mỗi tháng trả lãi 2.100.000 đồng. Do làm ăn thua lỗ tôi không có khả năng thanh toán lãi nữa nên năm 2017 gia đình tôi có gặp bà C để chốt tiền vay và lãi để tôi trả dần. Đến năm 2019 sau khi thống nhất cùng gia đình và tôi quyết định bán toàn bộ khu đất gia đình sở hữu. Trong đó có cả mảnh đất thế chấp cho bà C. Vì vậy tôi đã thống nhất trả tiền cho bà C để lấy lại bìa đỏ để bán cho người khác. Đã thống nhất nhưng bà C không trả bìa đỏ lại không đồng ý và thay đổi quyết định nên tôi không có thể bán được đất. Hiện nay tôi không có nghề nghiệp nên chưa có tiền để trả bà C.
Tại phiên Toà bà Nguyễn Thị Thu H giữ nguyên ý kiến về các khoản nợ. Về lãi suất bà đề nghị áp dụng lãi suất là 13,5%/năm đối với các khoản vay trên. Về thời gian bắt đầu tính lãi, khoản vay 160 triệu thì bà đã trả lãi đến tháng 8/2015 (âm lịch), thời gian bắt đầu tính lãi từ tháng 9/2015 (âm lịch), khoản vay 70 triệu thì bắt đầu tính lãi từ tháng 3/2015 âm lịch cho đến ngày xét xử.
Do hiện nay bà không có công ăn việc làm do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bà được trả tiền định mức cho bà C mỗi tháng 01 triệu đồng/tháng. Đồng thời bà yêu cầu bà C phải trả lại bìa đỏ cho bà.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thụ lý vụ án; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 48, 195, 196, 197, 198, 203, 239 và 243 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, 49 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 51, 237 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Người tham gia tố tụng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm chuẩn bị xét xử đã chấp hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73, Điều 77, Điều 78, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong vụ án và lời trình bày của đương sự xét thấy: .
Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà các bên đương sự đã thống nhất được về số tiền vay, lãi suất và thời gian tính lãi
Từ những căn cứ như trên đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ:
- - Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- - Điều 280, 351, 357 Bộ luật dân sự năm 2015
- - Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Kim C. Buộc bà Nguyễn Thị Thu H trả lại cho bà Bùi Kim C tổng số tiền 531.500.000 đồng (trong đó số tiền gốc là 230.000.000 đồng và số tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/05/2025) là 301.500.000 đồng)
- Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Kim C được chấp nhận do vậy bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 25.260.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản tự khai của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
- [1]. Về tố tụng: Bà Bùi Kim C khởi kiện “Kiện đòi tiền” với bà Nguyễn Thị Thu H có địa chỉ thường trú tại: Tổ F, thị trấn T, tỉnh Cao Bằng; nơi tạm trú: Xóm trọ phòng 6, số nhà C, ngõ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, yêu cầu khởi kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn có địa chỉ tạm trú: Xóm trọ phòng 6, số nhà C, ngõ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Do vậy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Các bên đương sự giao kết hợp đồng từ năm 2014 do vậy áp dụng điểm c Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết vụ án.
- [2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- [2.1]. Nguyên đơn bà Bùi Kim C yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng buộc bà Nguyễn Thị Thu H trả lại số tiền đã vay 03 lần, cụ thể ngày 10/11/2014 vay 160 triệu đồng; ngày 29/12/2014 vay số tiền 160 triệu đồng; ngày 16/12/2014 (âm lịch) vay 70 triệu đồng. Tổng cộng cả ba khoản vay là 390.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án ngày 29/04/2025 bà C xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc, theo đó không yêu cầu Toà án giải quyết khoản vay ngày 10/11/2014 với số tiền vay là 160 triệu đồng. 02 khoản vay còn lại bà C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và không vượt quá yêu cầu khởi kiện do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu lời khai, lời trình bày và những tài liệu được thu thập Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên toà giữa bà Bùi Kim C và Nguyễn Thị Thu H thống nhất xác định số tiền bà H đã vay của bà C gồm 2 khoản vay:
Khoản 1: Vay ngày 29/12/2014, số tiền vay là 160.000.000 đồng, thời gian vay từ 1 năm trở lên, hai bên thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, bên vay thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AR 159400, hai bên thỏa thuận khi nào bên vay trả đủ số tiền trên thì bên cho vay phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy vay tiền có xác nhận của UBND thị trấn T, tỉnh Cao Bằng.
Khoản 2 vay ngày 16/12/2014 âm lịch (ngày 04/02/2015 dương lịch), hai bên thỏa thuận số tiền vay là 70.000.000 đồng, thời hạn vay 1 tháng, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng.
Các bên đương sự xác nhận đối với số tiền gốc bà H chưa thanh toán được cho bà C phần tiền gốc nào do vậy bà C yêu cầu bà H có nghĩa vụ trả số tiền gốc đối với 2 khoản vay trên với tổng số tiền gốc là 230.000.000 đồng là có căn cứ và cần được chấp nhận.
- [2.2]. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng buộc bà Nguyễn Thị Thu H thanh toán số tiền lãi kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 1,66%/tháng.
Trong quá trình giải quyết vụ án ngày 29/04/2025 bà C thay đổi yêu cầu khởi kiện về lãi suất. Yêu cầu Toà án áp dụng mức lãi suất là 13,5%/năm đối với hai khoản vay trên. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu thay đổi của nguyên đơn là tự nguyện và không vượt quá yêu cầu khởi kiện do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên toà nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất tính lãi là 13,5%/năm đối với 02 khoản vay trên.
Theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 ngân hàng N xác định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm. Căn cứ khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005. Các bên đương sự thống nhất tính lãi 13,5%/năm đối với 02 khoản vay trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật do vậy cần được chấp nhận
- [2.3]. Về thời gian bắt đầu tính lãi.
Tại phiên tòa các bên đương sự thống nhất thời gian tính lãi theo biên bản họp gia đình ngày 10/05/2017 giữa các đương sự cụ thể:
Đối với khoản vay 160 triệu đồng vay ngày 29/12/2014, các đương sự xác nhận bà H đã thanh toán lãi đến tháng 8/2015 âm lịch, thời gian tính lãi bắt đầu từ tháng 9/2015 âm lịch (tức tháng 10/2015 dương lịch) đến ngày xét xử.
Đối với khoản vay 70 triệu đồng vay ngày 16/12/2014 âm lịch (ngày 04/02/2015 dương lịch), các đương sự xác nhận bà H đã thanh toán lãi đến tháng 2/2015 (âm lịch), thời gian tính lãi được tính từ tháng 3/2015 âm lịch (tức tháng 5/2015 dương lịch) cho đến ngày xét xử.
Sự thoả thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm pháp luật do vậy cần chấp nhận sự thoả thuận của các đương sự.
Số tiền lãi của khoản vay 160 triệu được tính từ tháng 10/2015 đến ngày xét xử là 09 năm 07 tháng là: 207.000.000 đồng.
Số tiền lãi của khoản vay 70 triệu được tính từ tháng 5/2015 đến ngày xét xử là: 94.500.000 đồng.
- [2.4]. Về phương thức thanh toán: Tại phiên tòa bà H đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bà được trả tiền định mức cho bà C theo từng tháng, mỗi tháng 01 triệu đồng với lý do hiện nay bà không có công việc, không có thu nhập, tuy nhiên bà C không đồng ý.
Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng cho vay giữa hai bên đương sự được xác lập từ năm 2014, từ tháng 8/2015 bà H không trả được khoản gốc và lãi nào cho bà C. Việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bà H diễn ra trong thời gian dài, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà C. Bà C không nhất trí với đề nghị của bà H do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận đề nghị của bà H.
- [3]. Những vấn đề khác.
Ngày 06/05/2025 bà Nguyễn Thị Thu H có đơn trình bày ý kiến trong đó có yêu cầu bà Chi trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cầm cố cho bà C theo giấy vay tiền ngày 29/12/2014. Tại phiên toà bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu trên. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà H có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thuộc trường hợp yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, yêu cầu của bà H được đưa ra sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà H có quyền khởi kiện trong vụ án khác khi có yêu cầu.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các đương sự không có yêu cầu áp dụng thời hiệu do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu.
- [4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận vì vậy nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá nghạch theo quy định của pháp luật.
- [5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Căn cứ Điều 280, 281, 282, 290, khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005.
- - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Kim C.
Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho bà Bùi Kim C số tiền 531.500.000 đồng (trong đó số tiền gốc là 230.000.000 đồng và số tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/05/2025) là 301.500.000 đồng).
Kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 468 bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- [2]. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 25.260.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
Bà Bùi Kim C được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.782.000 đồng theo biên lai số 0001156 ngày 09/12/2024 tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng.
- [3]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Xuân Huy |
Bản án số 41/2025/DS-ST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG về kiện đòi tiền
- Số bản án: 41/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tiền
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chi Hằng kiện đòi tiền
