Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 41/2025/DS-ST

Ngày 17-6-2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Bá Bảo

Bà Dương Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Phương Dung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: Bà Phạm Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2025/TLST-DS ngày 25/02/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-DS ngày 12/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/QĐST-DS ngày 29/5/2025, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty T.

Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A, Tháp B, Khu thương mại dịch vụ kết hợp nhà cao tầng tại lô đất 1-13 thuộc Khu C-Số A, đường T, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Chun Young I – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Minh Đ – Chức vụ: Giám đốc Khối Thu hồi nợ (Theo giấy ủy quyền số 048/2024/GUQ-TGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Tổng Giám đốc Công ty T)

Công ty T ủy quyền cho Công ty L (Theo giấy ủy quyền số 53/2024/UQ-KK-SVFC ngày 12/12/2024). Người được Công ty L ủy quyền lại bà Lê Thị Thảo N, sinh năm 1997 (Theo văn bản ủy quyền số 35/UQ2024 ngày 24/12/2024)

Địa chỉ liên hệ: Số H N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1981

Địa chỉ: K T, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn đại diện Công ty T trình bày:

Ngày 16/12/2019, Công ty T và bà Nguyễn Thị Kiều O có ký hợp đồng cho vay số [...]. Theo đó, Công ty T cho bà Nguyễn Thị Kiều O vay số tiền 48.000.000 đồng với lãi suất 34,5%/năm, mục đích vay mua đồ dùng, trang thiết bị gia đình, loại hình vay tín chấp (không yêu cầu tài sản đảm bảo). Vào ngày 16/12/2019, Công ty T đã giải ngân đủ số tiền cho bà Nguyễn Thị Kiều O. Căn cứ quy định của hợp đồng, bà Nguyễn Thị Kiều O có nghĩa vụ thanh toán khoản vay bao gồm gốc và lãi trong vòng 48 kỳ vào ngày 05 (năm) hàng tháng, số tiền thanh toán mỗi kỳ là 1.838.599 đồng, kỳ đầu tiên vào ngày 05/01/2020, kỳ cuối cùng thanh toán số tiền 1.838.637 đồng vào ngày 05/12/2023. Tuy nhiên đến nay, bà Nguyễn Thị Kiều O chỉ mới thanh toán tổng cộng 15 kỳ với tổng số tiền 27.648.151 đồng, trong đó: nợ gốc 9.180.902 đồng và nợ lãi 18.467.249 đồng. Bà Nguyễn Thị Kiều O đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, mặc dù Công ty đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện nhưng bà Nguyễn Thị Kiều O vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T. Tại phiên tòa, Công ty T yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Kiều O trả cho Công ty số tiền tính đến ngày 17/6/2025 là 121.115.504 đồng, trong đó: nợ gốc 38.819.098 đồng, nợ lãi quá hạn 21.851.306 đồng, lãi chậm trả gốc quá hạn 53.352.575 đồng, lãi chậm trả lãi quá hạn 7.092.525 đồng. Bà Nguyễn Thị Kiều O có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 18/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều O: Trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt (niêm yết) các văn bản tố hợp lệ nhưng không đến Tòa nên không có lời khai của bà Nguyễn Thị Kiều O trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.

* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của Công ty T đối với bà Nguyễn Thị Kiều O là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T, buộc bà Nguyễn Thị Kiều O phải thanh toán cho Công ty số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 17/6/2025 là 121.115.504 đồng. (Trong đó: Nợ gốc 38.819.098 đồng, nợ lãi quá hạn 21.851.306 đồng, lãi chậm trả gốc quá hạn 53.352.575 đồng, lãi chậm trả lãi quá hạn 7.092.525 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 18/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Công ty T (Sau đây gọi tắt là Công ty T) và bà Nguyễn Thị Kiều O thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Bà Nguyễn Thị Kiều O (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kiều O.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ Hợp đồng cho vay số [...] ngày 16/12/2019, Bản điều khoản cơ bản, cam kết nhận khoản vay và yêu cầu giải ngân, lịch trả nợ, lịch sử thanh toán, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Kiều O có vay của Công ty T số tiền 48.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích mua đồ dùng trang thiết bị gia đình, loại hình vay tín chấp không có tài sản bảo đảm, lãi suất trong hạn áp dụng 34,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, số kỳ thanh toán chia làm 48 kỳ vào ngày 05 hàng tháng, số tiền thanh toán mỗi kỳ là 1.838.599 đồng, thời hạn cho vay tính từ ngày giải ngân và kết thúc tại thời điểm bên vay trả hết nợ. Xét thấy rằng việc ký kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật liên quan.

[2.2]. Bà Nguyễn Thị Kiều O đã được Công ty T giải ngân số tiền 48.000.000 đồng vào ngày 16/12/2019. Từ khi vay cho đến nay, bà Nguyễn Thị Kiều O đã thanh toán được 15 kỳ với số tiền 27.648.151 đồng. Kể từ ngày 05 tháng 4 năm 2021 bà Nguyễn Thị Kiều O bắt đầu vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Việc bà O không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn vi phạm cam kết thanh toán giữa các bên trong Hợp đồng cho vay, do đó hết thời hạn cho vay vào ngày 05 tháng 12 năm 2023, Công ty T đã khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ là có căn cứ theo quy định tại Hợp đồng và Luật các tổ chức tín dụng.

[2.3]. Tại phiên tòa, Công ty T yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Kiều O phải thanh toán toàn bộ số tiền tính đến ngày 17/6/2025 là 121.115.504 đồng, trong đó: nợ gốc 38.819.098 đồng, nợ lãi quá hạn 21.851.306 đồng, lãi chậm trả gốc quá hạn 53.352.575 đồng, lãi chậm trả lãi quá hạn 7.092.525 đồng, bà O có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Xét thấy yêu cầu của Công ty T là có căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự, Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty.

[3]. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu theo giá ngạch 121.115.504 đồng x 5% = 6.055.775 đồng. Hoàn trả cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
  • - Điều 280 Bộ luật Dân sự;
  • - Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty T đối với bà Nguyễn Thị Kiều O.

1. Buộc bà Nguyễn Thị Kiều O phải thanh toán cho Công ty T số tiền 121.115.504 đồng (Trong đó: Nợ gốc 38.819.098 đồng, nợ lãi quá hạn 21.851.306 đồng, lãi chậm trả gốc quá hạn 53.352.575 đồng, lãi chậm trả lãi quá hạn 7.092.525 đồng tính đến ngày 17/6/2025).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số [...] ngày 16/12/2019.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty cho vay.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu 6.055.775 đồng (Sáu triệu, không trăm năm mươi lăm ngàn, bảy trăm bảy mươi lăm đồng).

Hoàn trả cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí 2.733.419 đồng (Hai triệu, bảy trăm ba mươi ba ngàn, bốn trăm mười chín đồng) theo biên lai thu số 0007777 ngày 25/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Quốc Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 41/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty tài chính TNHH một thành viên Shinhan Việt Nam đối với bà Nguyễn Thị Kiều Oanh. Buộc bà Nguyễn Thị Kiều Oanh phải thanh toán cho Công ty tài chính TNHH một thành viên Shinhan Việt Nam số tiền 121.115.504 đồng (Trong đó: Nợ gốc 38.819.098 đồng, nợ lãi quá hạn 21.851.306 đồng, lãi chậm trả gốc quá hạn 53.352.575 đồng, lãi chậm trả lãi quá hạn 7.092.525 đồng tính đến ngày 17/6/2025)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger