Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/DS - ST

Ngày: 14 – 3 – 2025

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Trang.

Các Hội thẩm nhân dân

  1. Bà Trần Thị Dung
  2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thùy Mỵ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 844/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2025/QÐST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1957.
  • Địa chỉ: 51/8/13 Đ, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  • Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1949 (GUQ ngày 04/11/2024).
  • Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Bị đơn: Ông Đỗ Thanh P, sinh năm 1993.
  • Địa chỉ: 6 T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
  • - Người làm chứng: Ông Nguyễn Trọng N.
  • Địa chỉ: Thị trấn C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn và đại diện nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 18/8/2023 bà Nguyễn Thị Lệ H có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đỗ Thanh P 03 thửa đất như sau:

  1. “Giấy chứng nhận quyềnsử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" số phát hành DA 381918, số vào số cấp GCN: CS07857 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 08/02/2021 tại thửa số 640, tờ bản đồ số 10, tổng diện tích 47,8 m² loại đất: Đất trồng CLN, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long - do bà Nguyễn Thị Lệ H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giá chuyển nhượng là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

  2. "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số phát hành DA 381930, số vào sổ cấp GCN: CS07861 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 18/02/2021 tại thửa số 305, tờ bản đồ số 10, tổng diện tích 60,5 m² loại đất: Đất trồng CLN, tọa lạc tại xã T, huyện T,, tỉnh Vĩnh Long - do bà Nguyễn Thị Lệ H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giá chuyển nhượng là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

  3. "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số phát hành CY 417493, số vào sổ cấp GCN: CS07766 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 14/02/2020 tại thừa số 574, tờ bản đồ số 10, tổng diện tích 48,0 m² loại đất: Đất trồng CLN, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long - do bà Nguyễn Thị Lệ H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giá chuyển nhượng là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

Tổng chuyển nhượng 03 thửa đất cho ông P là 660.000.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng). Sau khi chuyển nhượng ông P trả cho tôi được 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Còn lại 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng) chúng tôi làm hợp đồng vay.

Thời hạn vay là 06 (sáu) tháng. Tính từ ngày 16/8/2023 đến ngày 16/02/2024. Lãi suất: do 02 bên tự thoả thuận theo quy định pháp luật. Tính đến nay ông P trả cho bà H được 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) tiền gốc. Còn lại 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng) ông P chưa trả cho bà. Đã nhiều lần bà Nguyễn Thị Lệ H yêu cầu ông P thanh toán số nợ trên, ông P có hứa nhưng không có trả. Khoảng 4 tháng nay bà H điện thoại thì ông P không bắt máy. Nay bà H viết đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ giải quyết nội dung sau:

Buộc ông Đỗ Thanh P trả cho bà Nguyễn Thị Lệ H số tiền nợ gốc là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng) và số tiền lãi suất 0,83%/ tháng, tương ứng lãi 350.000.000 đồng x 0,83% x 15 tháng = 43.575.000 đồng (Bốn mươi ba triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Tổng cộng tiền gốc và lãi là 393.755.000 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng) và bà H yêu cầu tính lãi suất cho đến khi Toà án xét xử.

Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên toà hôm nay:

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện ngày 11/11/2024. Yêu cầu trả nợ gốc 350.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 16/8/2023 đến ngày xét xử là 18 tháng 28 ngày với lãi suất 0,83%/tháng. Tính đến nay tiền lãi là 55 triệu đồng, bên nguyên đơn tính tròn 50 triệu đồng.

- Đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả được thẩm tra công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Phía bị đơn ông Đỗ Thanh P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú, tại UBND phường X và tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiếp tục xét xử vắng mặt đối với bị đơn là hoàn toàn phù hợp.

  2. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý: Giữa nguyên đơn và bị đơn có giao dịch vay mượn thể hiện bằng Hợp đồng vay, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ nên nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc. Do vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và do bị đơn đang cư trú tại địa bàn quận N, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

  3. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    3.1 Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc của nguyên đơn:

    Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H và bị đơn ông Đỗ Thanh P có giao dịch vay mượn thể hiện bằng “Hợp đồng vay”, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C – ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, số công chứng 1109 quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/8/2023 với số tiền vay là 460.000.000 đồng (bốn trăm sáu mươi triệu đồng). Hợp đồng vay vừa nêu trên có công chứng hợp pháp nên đây là chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn xác định giao dịch vay mượn bắt nguồn từ việc bị đơn nhận chuyển nhượng 03 thửa đất của nguyên đơn với giá 660.000.000 đồng, bị đơn trả được 200.000.000 đồng và nợ lại 460.000.000 đồng nên đã ký hợp đồng vay với nguyên đơn và cam kết trả số tiền nợ trong thời hạn 06 tháng, lãi suất thỏa thuận theo quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn đã trả được số tiền gốc 110.000.000 đồng, trả bằng tiền mặt 50.000.000 đồng và chuyển khoản 06 lần với số tiền 60.000.000 đồng qua tài khoản của bị đơn tại Ngân hàng TMCP N1 số tài khoản thẻ 0939672860 vào

số tài khoản của ông Nguyễn Trọng N – cháu của nguyên đơn mở tại Ngân hàng TMCP Đ số tài khoản 7110329080.

Trình bày này của nguyên đơn là có căn cứ bởi lẽ, theo “Hợp đồng vay” ngày 16/8/2023 có thể hiện phía sau của hợp đồng vay bị đơn ông Đỗ Thanh P đã ghi nhận “Mua 3 thửa đất 574, 305, 640 TBĐ số: 10 với số tiền 660.000.000 đồng. Trả trước 200.000.000 đồng. Còn thiếu lại 460.000.000 đồng theo hợp đồng vay” và phía dưới có ký tên, ghi họ tên Đỗ Thanh P. Ngoài ra, nguyên đơn còn cung cấp sao kê tài khoản do ông Nguyễn Trọng N (bản gốc) đứng tên. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Trọng N đã có tự khai và xác nhận đã nhận chuyển khoản của ông Đỗ Thanh P trả nợ cho bà Nguyễn Thị Lệ H 06 lần: ngày 05/02/2024 chuyển khoản 10 triệu đồng, ngày 01/3/2024 chuyển khoản 10 triệu đồng, ngày 04/3/2024 chuyển khoản 15 triệu đồng, ngày 19/3/2024 chuyển khoản 10 triệu đồng, ngày 25/3/2024 chuyển khoản 07 triệu đồng và ngày 28/3/2024 chuyển khoản 08 triệu đồng.

Đại diện nguyên đơn đã xuất trình được bản chính của “Hợp đồng vay” ký ngày 16/8/2023. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng giao dịch vay mượn giữa nguyên đơn và bị đơn là có thật nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số nợ gốc còn lại 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 0,83%/tháng. Hợp đồng vay tiền có ghi nhận về lãi suất vay nhưng không xác định rõ lãi suất cụ thể. Nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Lãi được tính từ ngày 16/8/2023 đến ngày 14/6/2025 là 18 tháng 28 ngày, lãi là: 350.000.000 đồng x 15 tháng 28 ngày x 0,83% = 55.001.333 đồng. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu trả số tiền lãi tính tròn 50.000.000 đồng là sự tự nguyện của nguyên đơn và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích vừa nêu trên, Hội đồng xét xử chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền nợ gốc và lãi phải trả cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), án phí tương ứng: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

    Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H được miễn nộp tạm ứng án phí nên không đặt ra xem xét tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H đối với bị đơn ông Đỗ Thanh P. Buộc bị đơn ông Đỗ Thanh P có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H số tiền nợ gốc và lãi là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), trong đó, nợ gốc là 350.000.000 đồng, nợ lãi là 50.000.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đỗ Thanh P phải chịu: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

    Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H được miễn nộp tạm ứng án phí nên không đặt ra xem xét tạm ứng án phí.

  3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

  4. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTPCT;
  • - VKSNDQNK;
  • - Chi cục THADSQNK;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

ĐỖ THỊ DIỄM TRANG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/DS - ST ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 41/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Hoa kiện anh Phương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger