|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/5/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”. |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Đô
- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.
Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 57/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/02/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2024/QÐST-DS ngày 17/5/2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1992
Địa chỉ: khu phố H, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Duy T1, sinh năm: 1989
Địa chỉ: khu phố H, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bà T có mặt, ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 02 năm 2024 nguyên đơn là bà Hồ Thị T và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đều trình bày:
Bà Hồ Thị T và ông Trần Duy T1 tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 15/2012, quyển số 01/2012, ngày 28/5/2012.
Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì ông T1 không quan tâm đến vợ con, nguyên nhân là do ông T1 đi sớm về trể, không chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường cãi vã, đời sống không hòa hợp, ông T1 thường xuyên có lời nói xúc phạm với bà T do đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được mặc dù gia đình hai bên cũng như vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không hề giảm mà ngày càng phát sinh trầm trọng hơn nên bà T, ông T1 đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay bà T nhận thấy tình trạng gia đình đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Bà Hồ Thị T, ông Trần Duy T1 có 02 người con chung tên Trần Thị Hoài T2, sinh ngày 20/10/2017 và Trần Duy T3, sinh ngày 22/12/2012. Hiện nay các con đang sống với bà T nên sau khi ly hôn bà T muốn tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Trung cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Hồ Thị T và ông Trần Duy T1 không có tài sản chung.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Hồ Thị T, ông Trần Duy T1 xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Duy T1 đều trình bày:
Ông Trần Duy T1 và bà Hồ Thị T tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15/2012, quyển số 01/2012 ngày 28/5/2012 tại UBND phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì vợ chồng bất đồng về tính tình cũng như quan điểm sống không hợp nhau, mâu thuẩn chính là cách cư xử trong đời sống hàng ngày cũng như mối quan hệ gia đình hai bên nên từ đó mạnh ai nấy sống không còn quan tâm chăm sóc giúp đở cho nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T1 yêu cầu giải quyết cho ông T1 được ly hôn với bà T và làm đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông T1.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, đồng thời chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Hồ Thị T được ly hôn ông Trần Duy T1. Giao 02 người con tên Trần Thị Hoài T2, sinh ngày 20/10/2017 và Trần Duy T3, sinh ngày 22/12/2012 cho bà Hồ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, bà Hồ Thị T chưa có yêu cầu ông Trần Duy Trung cấp dưỡng tiền nuôi con nên chưa xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà T phải chịu án phí và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Hồ Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết giải quyết ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với ông Trần Duy T1 có nơi cư trú tại khu phố H, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sựthì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Bị đơn là ông Trần Duy T1 đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
Bà Hồ Thị T, ông Trần Duy T1 tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 15/2012, quyển số 01/2012, ngày 28/5/2012.
Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì ông T1 không quan tâm đến vợ con, nguyên nhân là do ông T1 đi sớm về trể, không chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường cãi vã, đời sống không hòa hợp, ông T1 thường xuyên có lời nói xúc phạm với bà T do đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được mặc dù gia đình hai bên cũng như vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không hề giảm mà ngày càng phát sinh trầm trọng hơn nên bà T, ông T1 đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay bà T nhận thấy tình trạng gia đình đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau”.
Khoản 01 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho ông T1 và bà T trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông T1 xác định không còn tình cảm với bà T nên làm đơn từ chối việc hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt, qua đó đủ cơ sở nhận định tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ lý do trên cho thấy việc bà T4 làm đơn yêu cầu ly hôn ông T1 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Hồ Thị T, ông Trần Duy T1 có 02 người con chung tên Trần Thị Hoài T2, sinh ngày 20/10/2017 và Trần Duy T3, sinh ngày 22/12/2012, hiện nay các con đang sống với bà T nên sau khi ly hôn bà T muốn tiếp tục nuôi dưỡng.
Xét thấy, hiện nay cháu T2 và cháu T3 đang được bà T nuôi dưỡng. Bà T có nơi cư trú, công việc thu nhập ổn định và nếu cần, bà có quyền lợi về mọi mặt đối với các cháu. Do đó, việc giao cháu T2 và cháu T3 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, trong khi ông T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, là phù hợp với Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Hồ Thị T chưa có yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chưa xem xét.
Về tài sản chung: Bà Hồ Thị T, ông Trần Duy T1 chưa có yêu cầu giải quyết nên chưa xem xét.
Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Hồ Thị T, ông Trần Duy T1 xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không xem xét giải quyết.
[3] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Trình tự thủ tục và nội dung giải quyết vụ án đều phù hợp với quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 262, Điều 264 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị T được ly hôn ông Trần Duy T1.
1.2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Trần Thị Hoài T2, sinh ngày 20/10/2017 và Trần Duy T3, sinh ngày 22/12/2012 cho bà Hồ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Trần Duy T1 có quyền thăm nom con. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con và ngược lại vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
1.3. Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Hồ Thị T chưa có yêu cầu ông Trần Duy Trung cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chưa xem xét.
1.4. Về tài sản chung: Bà Hồ Thị T và ông Trần Duy T1 chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.5. Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Bà Hồ Thị T và ông Trần Duy T1 xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai.
2. Về án phí: Bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001299 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, bà Hồ Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/5/2024), bà Hồ Thị T có quyền kháng cáo. Ông Trần Duy T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
4. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự, trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa NGUYỄN LƯU TRIỀU |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
