|
TÒA ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 25/7/2024.
V/v yêu cầu ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, BẮC GIANG
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.
- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Quang Vinh.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy – Thư ký Tòa án.
- Đại diện VKS nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh A - Kiểm sát viên.
Ngày 25/7/2024 tại trụ sở toà án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 26a/2024/QĐST-DS ngày 04/7/2024, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Mai Thị H, sinh năm 1992 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
+ Bị đơn: Anh Kiềng Vân T, sinh năm 1991 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện tranh chấp hôn nhân gia đình ghi ngày 12/3/2024 và lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Mai Thị H trình bày: Chị và anh Kiềng Vân T kết hôn với nhau vào năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc cho đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày do tính tình vợ chồng không hợp, luôn bất đồng về quan điểm nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kiềng Vân T.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Kiềng Mỹ D, sinh ngày 27/12/2016, hiện tại con khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang do chị chăm sóc nuôi dưỡng. Nay vợ chồng ly hôn nguyện vọng của chị xin được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không nợ người, người nợ và cũng không có ruộng canh tác chung nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trước phiên tòa hôm nay chị Mai Thị H có đơn xin vắng mặt.
+ Bị đơn anh Kiềng Vân T: Do anh Kiềng Vân T không hợp tác nên không có lời khai. Toà án nhân dân huyện Lạng Giang đã đến tại địa phương và gia đình anh T để tiến hành niêm iết các loại tục tố tụng theo quy định của pháp luật đầy đủ, hợp lệ và đúng trình tự pháp luật. Tại phiên toà hôm nay anh Kiềng Vân T vắng mặt.
+ Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và HĐXX: Thẩm phán và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán xác định đúng mối quan hệ tranh chấp. Việc giao gửi các văn bản tố tụng và hồ sơ cho VKS nghiên cứu đầy đủ, đúng quy định; HĐXX thực hiện đúng quy định của pháp luật;
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật; Bị đơn anh Kiềng Vân T không chấp hành đúng quy định của pháp luật, không hợp tác, không đến Tòa án để làm việc mặc dù đã được Tòa án giao đầy đủ các thủ tục tố tụng tại gia đình và địa phương theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị đơn anh T vẫn vắng mặt lần thứ hai.
- Về quan điểm đường lối giải quyết vụ án:
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật HNGĐ. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án:
- QHHN: Xử cho chị Mai Thị H được ly hôn với anh Kiềng Vân T.
- Con chung: Giao cho chị H nuôi con chung. Anh T được quyền thăm nom chăm sóc con chung.
- Án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Những yêu cầu, kiến nghị khác: Không.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và tiền tố tụng: Xác định đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị H là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định. Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn anh Kiềng Vân T đã được Tòa án tống đạt niêm yết quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Tại phiên tòa chị Mai Thị H vắng mặt nhưng đã có đơn xin được xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai, do vậy HĐXX xử vắng mặt đương sự, căn cứ Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện L. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 26; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về căn cứ áp dụng pháp luật: Do các bên kết hôn với nhau đã đủ điều kiện kết hôn và đã có giấy chứng nhận kết hôn hợp pháp, do vậy áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân gia đình 2014 để giải quyết.
[4] Về nội dung vụ kiện:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị H và anh Kiềng Vân T đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2016 tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng về quan điểm, vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ đó, hiện tại chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, anh T cố tình không hợp tác khi Tòa án giải quyết vụ án. Qua điều tra xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện hiện tại anh T vẫn có mặt tại địa phương, đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Q, anh T đi làm công ty sáng đi tồi về gia đình. Gia đình anh T được Tòa án tiến hành niêm yết văn bản tố tụng và chính quyền địa phương đã giao thông báo thụ lý cùng các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T, anh T đã nhận được các văn bản của Tòa nhưng vẫn cố tình không hợp tác, không đến Tòa án làm việc. Do vậy Tòa án không lấy được lời khai của anh Kiềng Vân T.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Mai Thị H và anh Kiềng Vân T đã trầm trọng, vợ chồng chị H, anh T đã có thời gian sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, phía chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, anh T có nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn cố tình không đến Tòa án để làm việc nên mục đích của hôn nhân không còn đạt được. Do vậy cần giải quyết cho chị Mai Thị H được ly hôn với anh Kiềng Vân T là phù hợp với các Điều 51; Điều 56; Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: Vợ chồng chị H, anh T có 01 con chung Kiềng Mỹ Duyên, sinh ngày 27/12/2016, hiện tại cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng. Nay vợ chồng ly hôn nguyện vọng của chị H xin được tiếp tục nuôi con chung. Do anh T không đến Tòa làm việc nên HĐXX không thể biết được quan điểm, nguyện vọng của anh T về việc nuôi con chung. Do vậy HĐXX xét để đảm bảo quyền lợi cho cháu bé cần giao con chung của vợ chồng cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chị H không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Sau này nếu anh T có nguyện vọng nuôi con và có đơn yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện tranh chấp về việc nuôi con chung của vợ chồng sau ly hôn, xét là phù hợp Điều 81; Điều 82 và Điều 83 luật hôn nhân gia đình.
[4.3] Về tài sản, ruộng canh tác: Chị Mai Thị H thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung và chị không yêu cầu gì về tài sản, do vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Mai Thị H phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của BLTTDS.
Vì các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 luật hôn nhân gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- [1] Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mai Thị H được ly hôn với anh Kiềng Vân T.
- [2] Con chung: Xử giao cho chị Mai Thị H tiếp tục nuôi con chung là Kiềng Mỹ D, sinh ngày 27/12/2016. Chị H không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn anh Kiềng Vân T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- [3] Án phí: Chị Mai Thị H phải phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007390 ngày 19/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Báo cho các đương sự đều vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án vắng mặt hoặc được niêm yết công khai bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hằng |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hồng, anh Tuyến - LH
