Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIO LINH

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 05/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vĩnh;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Lê Đình Luận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Thăng L, sinh năm 1977, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn A, xã H, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức T (đã chết) và bà Trần Thị T1; có vợ là Lê Thị G; có 02 con, sinh năm 2003 và 2008; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 31/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Gio Linh xử phạt 6.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ, Tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q từ ngày 29/6/2024 cho đến nay; có mặt.

2. Phạm Trọng H, sinh năm 6/1994, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng L1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L2; vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ, Tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q từ ngày 29/6/2024 cho đến nay; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Trọng H.

Bà Lê Thị Thùy L3 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Cao P, sinh năm 1992; Nơi cư trú: thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Khoảng 12 giờ ngày 29/6/2024, Trần Thăng L xin xe của người đi đường đến đường T thuộc địa phận phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị mua 14 viên ma túy loại Methamphetamine của một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 400.000 đồng rồi đưa về nhà cất giấu. Vào chiều cùng ngày, tại nhà ở của mình, L đã sử dụng hết 01 viên.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, Phạm Trọng H muốn sử dụng ma túy nên sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu MI vào tài khoản Messengger của mình có tên “Hieu Pham” gọi đến tài khoản M “Tran Thang L4” của L4 hỏi: “Dượng biết chỗ mô thì lấy cho cháu bốn xị?”. Lúc này, L4 trả lời: “Bốn xị thì dượng có đây, cháu lên mà lấy”.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 74B1-033.53 mượn của anh Nguyễn Cao P (trú tại thôn P, xã G, huyện G) đến nhà bố mẹ L4 gọi: “Dượng ơi, dượng ơi”. L4 nghe thấy nên mở cửa phòng khách, đưa cho H 10 viên ma túy được bọc trong 01 miếng ni lon màu hồng. H nói: “Có bốn trăm đây dượng” nhưng L4 không nhận, đồng thời mở ví lấy 2.000.000 đồng đưa cho H nhờ đến quán tạp hóa nộp vào tài khoản của mình toàn bộ số tiền trên. H nhận tiền, điều khiển xe mô tô đến quán tạp hóa của chị Trần Thị H1 (sinh năm 1997, trú tại thôn A, xã G) nhờ chuyển 2.400.000 đồng vào tài khoản của L4 rồi trở về nhà. Khi đến đường bê tông thuộc địa phận thôn P, xã G thì bị Tổ công tác Công an huyện G phát hiện, bắt quả tang. H1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình và L4.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L4, thu giữ thêm 03 viên ma túy cùng loại đựng trong 01 giỏ nhựa màu đen. L4 khai nhận cất giữ số ma túy trên nhằm mục đích bán cho người nào có nhu cầu.

Bản Kết luận giám định số 797/KL-KTHS ngày 07/7/2024 của Phòng K (KTHS) Công an tỉnh Q kết luận: “Mẫu 10 viên nén màu hồng, hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY (được niêm phong trong phong bì giấy có ký hiệu MTH) gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu là 0,9264g. Mẫu 03 viên nén màu hồng, hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY (được niêm phong trong phong bì giấy có ký hiệu MT) gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu là 0,2770g. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Bản Kết luận giám định số 897/KL-KTHS gày 23/7/2024 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q kết luận: “Trên bề mặt 01 mảnh nilon màu hồng, kích thước 9cm x 5cm, được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu BGH và 01 mảnh nilon màu hồng, kích thước 10cm x 8cm, được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu BG gửi đến giám định có dấu vết đường vân nhưng dấu vết đường vân bị mờ nhòe, không đủ yếu tố giám định”.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS-GL ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Trần Thăng L, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS); bị cáo Phạm Trọng H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị: Tuyên bố: Bị cáo Trần Thăng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Trọng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng

khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Trần Thăng L từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/6/2024. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Phạm Trọng H từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/6/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong mã số QTS 797, bên trong chứa 1,1307 gam ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói còn lại sau giám định; 01 túi niêm phong mã số NS3A 077826, bên trong chứa 02 mảnh nilon màu hồng cùng bao gói còn lại sau giám định; 01 giỏ nhựa màu đen; thẻ sim có số thuê bao 0355241784; Tịch thu sung công quỹ nhà nước, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu MI, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu xanh; buộc bị cáo L nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng do thực hiện hành vi phạm tội mà có.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát; đồng thời bổ sung quan điểm cho rằng bị cáo có nhân thân tốt, tang số ma túy bị cáo H tàng trữ không nhiều, nên đề nghị HĐXX áp dụng thêm quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Trọng H dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Nội dung vụ án: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, xác định: Vì mục đích thu lợi bất chính bị cáo Trần Thăng L đã dùng 13 viên ma túy Methamphetamine có trọng lượng 1,2034 gam để bán và đã bán cho bị cáo Phạm Trọng H 10 viên trọng lượng là 0,9264 gam với giá 400.000 đồng; hành vi của bị cáo Trần Thăng L đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Phạm Trọng H đã có hành vi tàng trữ 10 viên ma túy Methamphetamine có trọng lượng là 0,9264 gam nhằm mục đích sử dụng đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Thăng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS; bị cáo Phạm Trọng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, làm lan rộng tệ nạn ma túy trong cộng đồng; tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Phạm Trọng H có nhân thân tốt, có công việc ổn định nhưng do thiếu ý thức rèn luyện nên đã dẫn bị cáo đi vào con đường phạm tội. Bị cáo Trần Thăng L có nhân thân xấu: năm 2016 bị TAND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 6.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện nhưng với lối sống buông thả vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân bị cáo đã trực tiếp mua ma túy bán lại cho bị cáo H nhằm mục đích thu lợi bất chính.

Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; bị cáo Phạm Trọng H đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện hành vi phạm tội của bị cáo L nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo Trần Thăng L trong quá trình công tác được Bộ trưởng Bộ G1 tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, có bố, mẹ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bố được Nhà nước tặng thưởng Giấy chứng nhận người được hưởng chính sách như thương binh 3/4; bị cáo Phạm Trọng H gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, là lao động chính trong gia đình, mẹ thường xuyên đau ốm là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn ở mức khởi điểm của khung hình phạt được áp dung, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với ý kiến của Người bào chữa, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Trọng H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tệ nạn về ma túy là một trong những hiểm họa lớn của xã hội, gây thiệt hại cho sức khỏe, làm suy thoái giống nòi, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp và chiều hường gia tăng. Để ngăn chặn hiểm họa về ma túy cần phải có chế tài rất nghiêm khắc. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến đề nghị của người bào chữa.

[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có thu giữ xe mô tô BKS 74B1-033.53 của anh Nguyễn Cao P. Việc bị cáo Phạm Trọng H sử dụng tài sản trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội anh P không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định. Anh P đã nhận tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, bao gói còn lại sau giám định, 01 giỏ nhựa màu đen, thẻ sim số thuê bao 0355241784 là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động nhãn hiệu MI màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh là phương tiện các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Số tiền 400.000 đồng bị cáo Trần Thăng L có được do thực hiện hành vi phạm tội là khoản thu lợi bất chính nên cần phải truy thu từ bị cáo Long sung vào ngân sách nhà nước.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Các vấn đề khác trong vụ án: Người đàn ông bán ma túy cho Trần Thăng L chưa điều tra được lai lịch nên không có cơ sở xem xét, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249 tuyên bố: Bị cáo Trần Thăng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Trọng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Trần Thăng L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/6/2024.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Phạm Trọng H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong mã số QTS 797, bên trong chứa 1,1307 gam chất bột màu hồng là ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói còn lại sau giám định. 01 túi niêm phong mã số NS3A 077826, bên trong chứa 01 mảnh nilon màu hồng, kích thức (9 x 5) cm và 01 mảnh ni long màu hồng, kích thước (10 x 8) cm cùng bao gói còn lại sau giám định. 01 giỏ nhựa màu đen.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu MI, màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh.

Các vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024, giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh.

Buộc bị cáo Trần Thăng L phải nộp lại số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng do thực hiện hành vi phạm tội mà có để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Buộc các bị cáo Trần Thăng L và Phạm Trọng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Lê Đình Luận Nguyễn Ngọc Vĩnh
Nguyễn Văn H2

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Gio Linh;
  • - Công an huyện Gio Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Gio Linh;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Lưu HS vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thăng L và H tàng trữ trái phép ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger