Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày: 11/09/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Phước

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Bạch Long
  2. Bà Lê Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Vũ Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mới - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Ban ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lưu động, công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Lê Minh N, tên gọi khác: Không có; sinh ngày: 09/02/2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ thường trú: 61 ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Tổ A, ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Võ Thị Kim A; có vợ và 01 con, sinh năm 2023; tiền án: không; tiền sự: Ngày 19/02/2024, bị Công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị tạm giữ từ ngày 12/03/2024 và tạm giam từ ngày 18/03/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  2. Họ tên: Nguyễn Tấn T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày: 13/8/1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ thường trú: 121/6 ấp C, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Tổ A, ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị V (chết); chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/6/2003, bị Công an huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi gây rối trật tự

công cộng; Ngày 22/9/2006, bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 năm tù về tội “Giết người” theo bản án số 1411/2006/HSPT ngày 22/9/2006, chấp hành xong bản án ngày 30/8/2010; bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 và tạm giam từ ngày 18/3/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Em Trương Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 16/10/2008
    Địa chỉ: 3 ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
    Người đại diện hợp pháp của em Trương Nguyễn Ngọc H:
    Ông Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1979, là người giám hộ của em H
    Địa chỉ: 3 ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
  2. Ông Bùi Nhật M, sinh năm 2002
    Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
  3. Ông Hồ Minh T1, sinh năm 1980
    Địa chỉ: A tổ B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
  4. Ông Bùi Minh N1, sinh năm 1997
    Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
  5. Ông Trần Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1994
    Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
  6. Em Phan Anh H2, sinh ngày 19/10/2006
    Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
    Người đại diện hợp pháp của em Phan Anh H2:
    Bà Võ Thị T2, là mẹ ruột của em H2
    Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 09/3/2024, Bùi Nhật M điện thoại cho Lê Minh N hỏi mua ma túy với số tiền 700.000 đồng, thì N hẹn ngày 10/3/2024 sẽ gửi đò C - T qua xã T cho M và kêu M chuyển tiền vào tài khoản của N. Đến khoảng 07 giờ ngày 10/3/2024, Lê Minh N điện thoại cho Nguyễn Tấn T hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng thì T đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 59Z2 – 313.78 đi từ xã L, huyện C đến khu vực gần nhà T thuộc ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An gặp T, mua ma túy với số tiền 300.000 đồng và nhận được 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là chất ma túy loại Methamphetamine. N điều khiển xe mô tô trở về phòng trọ của N tại Tổ A ấp C, xã L, huyện C, rồi lấy một ít ma túy trong gói nylon vừa mua sử dụng, do số lượng ma túy còn lại ít không đủ để

bán cho M nên N tiếp tục điện thoại cho T hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng thì T đồng ý. N lấy gói ma túy trước đó quấn vào tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và bỏ vào vỏ thuốc hiệu ANTIBIO cất giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô trên đi đến khu vực gần nhà T. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, N gặp T, mua ma túy với số tiền 200.000 đồng và nhận được 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là chất ma túy loại Methamphetamine. Sau đó, N lấy gói ma túy vừa mua và gói ma túy còn lại trước đó quấn vào tờ tiền mệnh giá 1000 đồng và bỏ vào vỏ thuốc hiệu ANTIBIO cất giấu trong người, đồng thời điều khiển xe máy đi về huyện C, trên đường về N đã lấy vỏ thuốc hiệu ANTIBIO bên trong có chứa ma túy bỏ vào bịch nylon màu đen và điều khiển xe xuống bến đò C - T. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, N gửi bịch nylon màu đen bên trong chứa 02 gói ma túy cho anh Hồ Minh T1 đem về xã T, nhưng lúc này anh T1 không biết bên trong có chứa ma túy. Sau đó, N điện thoại kêu M ra bến đò gặp anh T1 để lấy bịch nylon màu đen bên trong có chứa ma túy, nhưng do M có việc không ra lấy được, nên N điện thoại kêu anh T1 đem bịch nylon về nhà. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Minh N điện thoại kêu Trương Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 16/10/2008, chạy xuống nhà anh T1 lấy bịch giấy tờ đem ra công viên xã T để đưa cho Bùi Nhật M thì H đồng ý. Sau đó, H đi xuống nhà anh T1 lấy 01 bịch nylon màu đen. Do H thấy nghi vấn nên mở ra kiểm tra thì phát hiện bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu giống ma túy nên đã đem đến Công an xã T, huyện C trình báo và giao nộp.

Ngoài 02 lần mua ma túy của Nguyễn Tấn T nêu trên thì trước đây Lê Minh N đã 02 lần mua ma túy của Nguyễn Tấn T tại khu vực xã L, huyện C, tỉnh Long An để sử dụng và bán lại cho nhiều người tại khu vực thuộc xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể như sau:

  • + Bán ma túy cho Bùi Nhật M mua 04 lần, mỗi lần số tiền từ 300.000 đồng đến 700.000 đồng, lần gần nhất vào ngày 10/3/2024 M đã chuyển khoản số tiền 700.000 đồng cho N để mua ma túy, nhưng chưa giao ma túy thì bị bắt.
  • + Bán ma túy cho Bùi Minh N1 02 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất vào tháng 01/2024.
  • + Bán ma túy cho Phan Anh H2 02 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất vào ngày 15/11/2023.
  • + Bán ma túy cho Trần Nguyễn Ngọc H1 01 lần, số tiền 200.000 đồng vào tháng 12/2023.

Theo lời khai và chỉ dẫn của Lê Minh N, khoảng 17 giờ 20 phút ngày 11/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C kết hợp với Công an xã L, huyện C, tỉnh Long An đã phát hiện Nguyễn Tấn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Click, màu trắng đen đỏ, biển số 59Z1 – 556.03 đang lưu thông trên đường số H, tổ A, ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra đã phát hiện và thu giữ 01 gói nylon màu đen bên trong chứa tinh thể không

màu là ma túy, loại Methamphetamine được bỏ bên trong lớp nylon của vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet và 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine được cất giấu trong hộc phía trước bên trái xe mô tô của T đang điều khiển nên tiến hành lập biên bản thu giữ các vật chứng có liên quan. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C áp giải Nguyễn Tấn T về nhà tại tổ A, ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An để khám xét và thu giữ 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine, cùng một số vật chứng khác có liên quan và áp giải Nguyễn Tấn T về trụ sở để điều tra làm rõ.

Qua điều tra xác định, do có nhu cầu mua ma túy về sử dụng và phân nhỏ lẻ bán cho người khác, T đã 04 lần mua ma túy của người đàn ông tên H3 (không rõ lai lịch), lần gần nhất là vào ngày 07/3/2024, Nguyễn Tấn T điện thoại để hỏi mua ma túy và người tên H3 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xa mô tô nhãn hiệu Honda, loại Click, màu trắng – đen – đỏ, biển số 59Z1 – 556.03 đi từ xã L, huyện C, tỉnh Long An đến đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp người tên H3 đang đứng ở ngoài đường để mua ma túy với số tiền 2.000.000 đồng, nhận được 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine. T cất giấu gói ma túy trong người và điều khiển xe máy quay về nhà của T tại tổ A, ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Sau đó, Nguyễn Tấn T đã phân nhỏ gói ma túy vừa mua ra thành nhiều gói nylon lớn nhỏ khác nhau, để sử dụng và bán lại cho người khác. Đến khoảng 17 giờ 20 phút ngày 11/3/2024, khi T điều khiển xe máy trên đang lưu thông trên tuyến đường số H thuộc tổ A, ấp A, xã L, huyện C thì bị lực lượng Công an kiểm tra đã phát hiện và thu giữ 02 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine.

Nguyễn Tấn T đã bán ma túy cho nhiều người tại khu vực thuộc xã L, huyện C, tỉnh Long An, cụ thể như sau:

  • + Bán ma túy cho Lê Minh N 04 lần, mỗi lần số tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng, gần nhất là vào ngày 10/3/2024 T bán cho N 02 lần, lần thứ nhất với số tiền 300.000 đồng và lần thứ hai số tiền 200.000 đồng.
  • + Bán ma túy cho người thanh niên sử dụng nick Zalo tên “Nguyễn T3” 01 lần vào ngày 09/3/2024 số tiền 200.000 đồng.
  • + Bán ma túy cho người thanh niên sử dụng nick Zalo tên “Trương An T4” mua 02 lần, mỗi lần số tiền 300.000 đồng, lần gần nhất cách ngày bị bắt khoảng 01 tháng.
  • + Bán ma túy cho người phụ nữ tên T5 sử dụng nick Zalo tên “Thảo” 01 lần vào ngày 07/3/2024 số tiền 300.000 đồng, ngày 11/3/2024 T5 điện thoại cho T hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng nhưng T chưa bán thì bị Công an bắt.

Tại Kết luận giám định số 3426/KL-KTHS ngày 19/3/2024 và số 3427/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

  • - Tinh thể không màu trong 02 gói nylon, được niêm phong bên ngoài có chữ ký tên Trương Nguyễn Ngọc H và hình dấu của Công an xã T, huyện C, ký hiệu mẫu m

cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,6227g (không phẩy sáu hai hai bảy gam), loại Methamphetamine.

- Tinh thể không màu trong 03 gói nylon, được niêm phong bên ngoài có chữ ký tên Nguyễn Tấn T và hình dấu của Công an xã L, huyện C, tỉnh Long An ký hiệu mẫu m1, m2, m3 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,8927g (ba phẩy tám chín hai bảy gam), loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSHCG ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Minh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Minh N, Nguyễn Tấn T đã trình bày lại toàn bộ nội dung vụ án và thừa nhận trong khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến tháng 03/2024, đã thực hiện hành vi nhiều lần mua chất ma tuý Methamphetamine để sử dụng và bán lại cho nhiều người khác như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời, các bị cáo cũng đã nhìn nhận trách nhiệm của mình và tỏ thái độ ăn năn hối hận, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến đánh giá nội dung vụ án, xác định hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Minh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) như nội dung bản cáo trạng. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát cũng đã đánh giá tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, e khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Minh N mức án từ 08 năm đến 09 năm tù; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T mức án từ 08 năm đến 09 năm tù; đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Nguyễn Ngọc H, hình dấu Công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký của giám định viện ghi tên Đại úy Nguyễn Thanh Đ, chữ ký ghi tên Phạm Văn S, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tấn T, hình dấu Công an xã L, huyện C, tỉnh Long An, chữ ký của giám định viện ghi tên Đại úy Nguyễn Thanh Đ, chữ ký ghi tên Phạm Văn S, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định; 04 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn (nỏ), đã qua sử dụng; 07 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn (nỏ), chưa qua sử dụng; 04 cái kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 06 ống nhựa, chưa qua sử dụng; 01 đoạn ống nhựa

được cắt vát một đầu, hàn kín một đầu, màu trắng sọc đỏ, đã qua sử dụng; 05 gói nylon bên trong không chứa gì; 04 cái quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 bình gas mini màu đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ bịch thuốc hiệu ANTIBIO, đã qua sử dụng; 01 bịch nylon màu đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET, đã qua sử dụng; tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xám đen, biển số 59Z2-31378, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Click, màu trắng đen đỏ, biển số 59Z1-556.03, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu ViVo Y22s, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000₫ (một ngàn đồng) và số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập chứng cứ, tài liệu đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã giao nộp chứng cứ, tài liệu đúng trình tự, thủ tục quy định. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thể hiện nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến tháng 03/2024, các bị cáo Lê Minh N, Nguyễn Tấn T đã thực hiện hành vi nhiều lần mua chất ma tuý Methamphetamine và bán lại cho nhiều người khác để kiếm lời. Cụ thể, bị cáo Lê Minh N đã 04 lần mua chất ma túy Methamphetamine của bị cáo Nguyễn Tấn T tại khu vực xã L, huyện C, tỉnh Long An về bán lại cho Bùi Nhật M 04 lần, Bùi Minh N1 02 lần, Phan Anh H2 02 lần và Trần Nguyễn Ngọc H1 01 lần; bị cáo Nguyễn Tấn T nhiều lần mua chất ma tuý Methamphetamine của một người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, T phân nhỏ ra và bán lại cho bị cáo Lê Minh N 04 lần và 04 lần bán cho ba người khác không rõ nhân thân lai lịch. Khi cơ quan công an phát hiện, thu giữ của bị cáo Nguyễn Tấn T 3,8927g (ba phẩy tám chín hai bảy gam) chất ma túy Methamphetamine và thu giữ của bị cáo Lê Minh N 0,6227 g (không phẩy sáu hai hai bảy gam) chất ma túy Methamphetamine. Do đó, hành vi của các bị cáo Lê Minh N, Nguyễn Tấn T thực hiện

đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Ngoài ra, khi bị cáo Lê Minh N bán ma túy cho Bùi Nhật M vào ngày ngày 10/3/2024, bị cáo N còn nhờ em Trương Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 16/10/2008, chưa đủ 16 tuổi, đi lấy ma túy về giao cho Bùi Nhật M nhưng bị em H phát hiện và trình báo cho cơ quan công an. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Minh N còn thuộc trường hợp sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội, được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Xét thấy, ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Người sử dụng ma túy sẽ bị nghiện, ảnh hưởng xấu về sức khỏe bản thân và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự xã hội nên cần thiết phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Tuy nhiên, xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; riêng bị cáo Lê Minh N đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm nên cần xem xét áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo và áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Minh N để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

[7] Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, xét bản thân bị cáo là người nghiện ma tuý, hoàn cảnh gia đình khó khăn, mua bán ma túy thu lợi không lớn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Đối với Bùi Nhật M, Bùi Minh N1, Phan Anh H2, Trần Nguyễn Ngọc H1 đã thực hiện hành vi mua ma túy để sử dụng. Tuy nhiên, do không xác định được khối lượng ma túy mà các đối tượng tàng trữ và tại thời điểm phát hiện các đối tượng không sử dụng ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có cơ sở.

[9] Đối với đối tượng tên H3 đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Tấn T hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[10] Đối với ông Hồ Minh T1 và em Trương Nguyễn Ngọc H khi nhận giao giúp bịch nylon của bị cáo Lê Minh N cho Bùi Nhật M không biết bên trong có chứa

ma túy. Đồng thời, khi em H phát hiện là chất ma túy đã trình báo ngay cho cơ quan công an. Hành vi của ông T1 và em H thực hiện là không có lỗi nên cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở.

[11] Về tang vật chứng của vụ án:

  • - 02 gói niêm phong bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định, đây là chất ma tuý mà Nhà nước quy định cấm tàng trữ, sử dụng trái phép nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - 04 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn (nỏ), đã qua sử dụng; 07 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn (nỏ), chưa qua sử dụng; 04 cái kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 06 ống nhựa, chưa qua sử dụng; 01 đoạn ống nhựa được cắt vát một đầu, hàn kín một đầu, màu trắng sọc đỏ, đã qua sử dụng; 05 gói nylon bên trong không chứa gì; 04 cái quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 bình gas mini màu đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ bịch thuốc hiệu ANTIBIO, đã qua sử dụng; 01 bịch nylon màu đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET, đã qua sử dụng, đây là dụng cụ sử dụng ma túy, không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xám đen, biển số 59Z2-31378, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Click, màu trắng đen đỏ, biển số 59Z1-556.03, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu ViVo Y22s, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ (một ngàn đồng) và số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng), là tài sản của các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b, e khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    2. Xử phạt: Lê Minh N 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    2. Xử phạt: Nguyễn Tấn T 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
  3. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
    1. Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Nguyễn Ngọc H, hình dấu Công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký của giám định viện ghi tên Đại úy Nguyễn Thanh Đ, chữ ký ghi tên Phạm Văn S, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tấn T, hình dấu Công an xã L, huyện C, tỉnh Long An, chữ ký của giám định viện ghi tên Đại úy Nguyễn Thanh Đ, chữ ký ghi tên Phạm Văn S, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định; 04 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn (nỏ), đã qua sử dụng; 07 đoạn ống thủy tinh có đầu tròn (nỏ), chưa qua sử dụng; 04 cái kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 06 ống nhựa, chưa qua sử dụng; 01 đoạn ống nhựa được cắt vát một đầu, hàn kín một đầu, màu trắng sọc đỏ, đã qua sử dụng; 05 gói nylon bên trong không chứa gì; 04 cái quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 bình gas mini màu đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ bịch thuốc hiệu ANTIBIO, đã qua sử dụng; 01 bịch nylon màu đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET, đã qua sử dụng.
    2. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xám đen, biển số 59Z2-31378, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Click, màu trắng đen đỏ, biển số 59Z1-556.03, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu ViVo Y22s, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ (một ngàn đồng) và số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng).

(Tang vật thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh và Văn bản yêu cầu chuyển vật chứng vụ án số 896/CSĐT(ĐMT) ngày 16/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh).

  1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo Lê Minh N, Nguyễn Tấn T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM;
  • - Viện KSND H. Cần Giờ;
  • - Công an H. Cần Giờ;
  • - Chi cục THADS H. Cần Giờ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Minh Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán chất ma túy nhiều lần
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger