Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HSST

Ngày: 20/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuỷ, bà Lê Thị Trinh

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXHSST - HS, ngày 06 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 23 tháng 08 năm 2000, tại phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; chức vụ, đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Trần Hữu H và bà: Lê Thị T1; anh em ruột có 4 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có chồng: Lê Đức P và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 24 tháng 6 năm 2024 cho đến nay; có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Chị Trần Thị Kim C; sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Văn K; sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

Anh Lê Đức P; sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 02/5/2024, Trần Thị T điều khiển xe mô tô BKS 38K1-457.43 của anh Lê Đức P (chồng của T) đến nhà chị Trần Thị Kim C, sinh năm 1998, trú tại thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chơi. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc T và chị C đang chuẩn bị nấu ăn ở dưới bếp thì T vào phòng ngủ của chị C tìm dây buộc tóc nhưng không thấy, T hỏi chị C: “Vòng buộc tóc ở đâu”, chị Chi trả 1: “Ở đâu đó tìm ì cái” rồi T mở ngăn kéo dưới cùng của tủ gỗ đựng quần áo trong phòng ngủ ra thấy có một túi da màu đỏ bên trong có túi bóng zip chứa trang sức gồm 03 chiếc nhẫn và 01 chiếc bông tai bằng vàng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt số tài sản trên để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. T lấy túi bóng zip chứa số vàng ra bỏ vào túi quần bên phải đang mặc rồi đóng ngăn kéo lại như ban đầu và tiếp tục đi tìm dây buộc tóc thì thấy trên bàn học của con chị C có dây buộc tóc, T lấy dây buộc tóc xong rồi đi xuống nhà bếp làm phụ việc với chị C. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, chị C đi vào phòng kiểm tra phát hiện túi bóng zip chứa các trang sức bằng vàng bị mất. Chị C tìm kiếm một lúc nhưng không thấy nên đi ra nhà bếp nói với T “Chị mất vàng rồi”, nhưng T im lặng không nói gì. Chị C tiếp tục quay trở vào phòng ngủ và các phòng khác tiếp tục tìm kiếm, nhưng không thấy. Khoảng 10 phút sau, T đi vào phòng ngủ giả vờ tìm kiếm với chị C rồi lấy túi bóng zip cất giấu trong túi quần ra lấy 01 chiếc bông tai bằng vàng bỏ vào túi quần và để túi bóng zip chứa 03 chiếc nhẫn vàng vào hộp nhựa đựng vòng buộc tóc đặt trên bàn học của con chị C và giả vờ đi tìm chỗ khác. Sau đó, T quay lại mở hộp nhựa đựng vòng buộc tóc ra, tay cầm túi bóng zip và nói với chị C “Chị ơi vàng đây rồi nì, con bé lấy ra chơi rồi bỏ đây”. Chị C cầm túi bóng zip ra kiểm tra thấy còn thiếu 01 chiếc bông tai bằng vàng rồi nói với T “Còn thiếu một chiếc bông tai nữa” rồi tiếp tục tìm kiếm một lúc nữa nhưng không thấy. Sau đó, T điều khiển xe mô tô mang theo 01 chiếc bông tai vàng chiếm đoạt được đi về nhà. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1-457.43 đến cửa hàng vàng bạc Kim Ngọc T2, của anh Trần Văn K, sinh năm 1990 ở tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh làm chủ cửa hàng bán cho anh K với giá 6.500.000 đồng, khi mua vàng anh K không biết tài sản do trộm cắp mà có, sau khi mua vàng anh K đã khò lại thành một khối hình tròn để làm mẫu mới bán cho khách. Số tiền bán vàng T tiêu xài cá nhân hết 4.100.000 đồng còn lại 2.400.000 đồng. Đến ngày 03/5/2024, chị Trần Thị Kim C đến Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trình báo sự việc. Trong ngày 03/5/2024 Công an xã K triệu tập Trần Thị T lên làm việc và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, giao nộp số tiền 2.400.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 3842/KTHS ngày 03/6/2024 của V, Bộ C1, kết luận: 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng được chế tác dạng tròn trơn, mặt trong nhẫn có các chữ và số "1C 9999 Anh Lập", ký hiệu (M) gửi giám định có khối lượng: 3,75 gam là vàng (A), hàm lượng Au: 99,33%; 01 khối hình tròn kim loại màu vàng, ký hiệu (M2) gửi giám định có khối lượng: 3,78 gam là vàng (A), hàm lượng Au: 99,32%; 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn đính 01 viên vật liệu không màu, mặt trong nhẫn có các chữ và số "C.LIÊN K.CHI 10 04 18",ký hiệu (A) gửi giám định có tổng khối lượng 3,10 gam (Tính cả các viên vật liệu) là hợp kim của vàng (A), bạc (A), đồng (Cu), kẽm (Z), hàm lượng Au: 40,99%; Ag: 3,37%; 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn đính 01 viên vật liệu không màu, mặt trong nhẫn có các chữ và số "C.LIÊN K.CHI 10 04 18", ký hiệu (A) gửi giám định có tổng khối lượng 3,99 gam (Tính cả các viên vật liệu) là hợp kim của vàng (A), bạc (A), đồng (Cu), kẽm (Z), hàm lượng Au: 41,15%; Ag: 2,92%.

Theo kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K kết luận: 01 chiếc nhẫn vàng, khối lượng: 3,75 gam, trị giá 7.400.000 đồng; 01 khối hình tròn vàng, khối lượng: 3,78 gam, trị giá 7.400.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng, mặt nhẫn đính 01 viên vật liệu không màu, khối lượng 3,10 gam, trị giá 3.200.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng, mặt nhẫn đính 01 viên vật liệu không màu, khối lượng 3,99 gam, trị giá 2.800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản thiệt hại của chị Trần Thị Kim C là 20.800.000 đồng.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý các vật chứng gồm:

  • - 01 chiếc nhẫn vàng, khối lượng: 3,75 gam; 01 chiếc nhẫn vàng, mặt nhẫn đính 01 viên vật liệu không màu, khối lượng 3,10 gam; 01 chiếc nhẫn vàng, mặt nhẫn đính 01 viên vật liệu không màu, khối lượng 3,99 gam, do chị Trần Thị Kim C giao nộp và 01 khối hình tròn vàng, khối lượng: 3,78 gam do anh Trần Văn K giao nộp, nay đã trả lại cho chủ sở hữu chị Trần Thị Kim C.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 12Pro màu đen, đã qua sử dụng, thu của Trần Thị T, nay đã trả lại cho chủ sở hữu Trần Thị T.
  • - Số tiền 2.400.000 đồng, thu của Trần Thị T, hiện nay đã chuyển đến tài khoản tạm giữ của C; 01 chiếc xe mô tô hiệu nhãn hiệu Honda SH Mode màu nâu, đỏ biển kiểm soát 38K1-457.43, thuộc quyền sở hữu của anh Lê Đức P, Sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thu của Trần Thị T, hiện nay đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, chị Trần Thị Kim C yêu cầu bị cáo Trần Thị T bồi thường số tiền 3.000.000 đồng tiền công làm lại chiếc bông tai. Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu, nay chị C không yêu cầu gì thêm. Bị cáo Trần Thị T đã bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn K số tiền 6.500.000 đồng tiền mua vàng, nay anh K không yêu cầu gì thêm.

Tại bản bị cáo trạng số 40/CT- VKSKA ngày 22 tháng 08 năm 2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị bị cáo Trần Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Thị T mức án từ 08 đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử: Trả lại cho bị cáo số tiền 2.400.000 đồng, thu của Trần Thị T, hiện nay đã chuyển đến tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh; trả lại cho anh Lê Đức P 01 chiếc xe mô tô hiệu nhãn hiệu Honda SH Mode màu nâu, đỏ biển kiểm soát 38K1- 457.43.
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc bị cáo Trần Thị T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị bị cáo khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Bị cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của Trần Thị T lợi dụng sơ sở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, đã lét lút với chủ sở hữu chiếm đoạt tài sản là 14,62 gam vàng, trị giá 20.800.000 đồng. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của Trần Thị T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không có gì oan sai.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại các điểm b, i. s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Hành vi của Trần Thị T đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 20.800.000 đồng, sau khi thực hiện hành vi, bị cáo đã chủ động trả lại 03 chiếc nhẫn vàng trước khi bị hại tố cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nới cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, nếu không bắt bị bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm minh.

[6] Trong vụ án có anh Trần Văn K, là người tiêu thụ tài sản do Trần Thị T trộm cắp mà có nhưng khi tiêu thụ tài sản anh K không biết tài sản đó do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu thêm gì về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

[8] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với các vật chứng đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu, Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với xe mô tô biển kiểm soát 38K1-457.43 Trần Thị T dùng làm phương tiện phạm tội. Quá trình xác minh, chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của anh Lê Đức P (Chồng của T) có trước khi kết hôn, anh Lê Đức P không biết việc T dùng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy HĐXX cần căn cứ vào khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự cần trả lại tài sản trên cho anh Lê Đức P là phù hợp.
  • - Số tiền 2.400.000 đồng bị cáo T đang tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh. Nhận thấy quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Trần Thị T đã bồi thường cho anh Trần Văn K đầy đủ số tiền mua vàng (6.500.000 đồng). Do đó Hội đồng xét xử cần căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo T là phù hợp.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị bị cáo.

[10] Về án phí: Bị bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng bị cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt Trần Thị T 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Thị T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  1. Về vật chứng vụ án: Trả lại cho bị cáo số tiền 2.400.000 đồng, thu của Trần Thị T, đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh; trả lại cho anh Lê Đức P 01 chiếc xe mô tô hiệu nhãn hiệu Honda SH Mode màu nâu, đỏ biển kiểm soát 38K1-457.43.
  2. Về án phí: Xử buộc Trần Thị T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng: Bị cáo được quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng bị cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tư ngày niêm yết bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Bị bị cáo;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an Hà Tĩnh (PV 06)
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Anh;
  • - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an huyện Kỳ Anh (2 bản);
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Kỳ Hải, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Người có QLNVLQ
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn, HS vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Cường

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HSST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 41/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị T phạm tội "trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger