|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ Bản số: 41/2024/HS-ST Ngày: 16/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Hai và bà Trương Thị Tố Uyên
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Ông Trần Nhật Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo: Trần Viết P, sinh ngày 29 tháng 11 năm 1991, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tài T, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960; vợ là Nguyễn Thị Phương H, sinh năm 1994. Có 01 người con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có tại phiên tòa mặt.
- Bị hại: Nguyễn Ngọc Q (đã chết), sinh năm 2005.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt( có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Trịnh Minh S, sinh năm 1990 và chị Trương Thị Nữ N1, sinh năm 1989. Trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một Thành viên P1(Công ty TNHH MTV P1). Địa chỉ: 1 H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị;
Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV P1: bà Dương Thị Ngọc Á- Giám đốc công ty. Vắng mặt
+ Anh Hà Xuân T2, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 ngày 18/02/2024, sau khi được Nguyễn Ngọc Q xin đi cùng lên thị trấn L chơi. Trần Viết P điều khiển xe ô tô BKS 74D-003.26 từ thành phố Đ đến thôn Q, xã C, huyện C để đón Nguyễn Ngọc Q. Trước khi lên xe Nguyễn Ngọc Q nói với Trần Viết P “để em lái cho”. Mặc dù biết rõ Nguyễn Ngọc Q chưa có giấy phép lái xe ô tô nhưng P vẫn đồng ý và đi qua ghế phụ ngồi, còn Q lên ghế tài và điều khiển xe ô tô BKS 74D-003.26 đi hướng lên thị trấn L. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, khi Nguyễn Ngọc Q điều khiển xe ô tô BKS 74D-003.26 đi đến Km 49+400 Quốc lộ I. Đây là đoạn đường có vòng cua sang phải (theo hướng đi Đ – Lao Bảo), mặt đường rộng 8,8m, giữa mặt đường có 01 vạch sơn màu vàng dạng đứt đoạn dùng để phân chia đường thành hai chiều di chuyển riêng biệt. Thì xe ô tô BKS 74D-003.26 do Nguyễn Ngọc Q điều khiển va chạm với xe ô tô khách BKS 74F-000.54 do anh Hà Xuân T2 điều khiển đang đi theo hướng ngược lại gây tai nạn. Hậu quả, Nguyễn Ngọc Q chết tại chỗ, hai xe hư hỏng nặng.
Tại bản kết luận giám định số 387/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô 74D-003.26 và xe ô tô BKS 74F-000.54 là góc trước bên trái đầu xe ô tô 74D-003.26 va chạm tương ứng với góc trước bên trái đầu xe ô tô BKS 74F-000.54.
- Va chạm đầu tiên giữa xe ô tô 74D-003.26 và xe ô tô BKS 74F-000.54 trên hiện trường là: Trong khu vực giới hạn từ điểm đầu vết ký hiệu số 5, đến điểm đầu dấu vết ký hiệu số 6 (được ghi nhận và mô tả trong hồ sơ khám nghiệm) trên phần đường chiều đi từ K đến Đ.
Xe ô tô 74D-003.26 tác động so với xe ô tô BKS 74F-000.54 theo hướng từ trước ra sau trạng thái hai phương tiện chuyển động ngược chiều.
- Tại bản kết luận định giá số 05/KL-HĐĐGTS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Đ kết luận: những bộ phận bị hư hỏng do hậu quả vụ tai nạn giao thông gây ra đối với xe ô tô BKS 74F-000.54, nhãn hiệu THACO, số máy WP12375E501423H059131, số khung RN5B24SBMPN006123, xe đã qua sử dụng là 93.250.000 đồng.
- Tại bản kết luận định giá số 06/KL-HĐĐGTS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Đ kết luận: những bộ phận bị hư hỏng do hậu quả vụ tai nạn giao thông gây ra đối với xe ô tô BKS 74D-003.26, nhãn hiệu MERCEDES, số loại MB, số máy 66291110166572, số khung KPD66111853907765, xe đã qua sử dụng là 31.100.000 đồng.
- Kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 18/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Ngọc Q là đa chấn thương.
- Kết luận giám định số 329/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Nồng độ cồn (E) trong mẫu máu gửi đến giám định (thu được từ thi thể Nguyễn Ngọc Q) là 34mg/100ml máu.
Cáo trạng số 35/CT-VKSÐKR ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Trần Viết P về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Viết P và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264, các điểm b,i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Viết P từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo : Không.
Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường đầy đủ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, trả lại cho bị cáo Trần Viết P 01 giấy phép lái xe hạng C, số D, mang tên Trần Viết P
Về án phí: Bị cáo Trần Viết P phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Mặc dù biết rõ Nguyễn Ngọc Q không có giấy phép lái xe ô tô nhưng vào ngày 18/02/2024, bị cáo Trần Viết P vẫn giao xe ô tô BKS 74D-003.26 cho Nguyễn Ngọc Q điều khiển; di chuyển theo hướng Đ - L, khi đến Km 49+400 Quốc lộ I, thì va chạm với xe ô tô khách BKS 74F-000.54 do anh Hà Xuân T2 điều khiển đang đi theo hướng ngược lại gây tai nạn. Hậu quả, Nguyễn Ngọc Q chết tại chỗ; hai xe hư hỏng nặng.
Kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 18/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Ngọc Q là đa chấn thương.
Kết luận định giá số 05/KL-HĐĐGTS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Đ kết luận: những bộ phận bị hư hỏng do hậu quả vụ tai nạn giao thông gây ra đối với xe ô tô BKS 74F-000.54, nhãn hiệu THACO, số máy WP12375E501423H059131, số khung RN5B24SBMPN006123, xe đã qua sử dụng là 93.250.000 đồng.
Quá trình tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Viết P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường tai nạn biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và các tài liệu, chứng cứ thu thập được. Hành vi giao xe ô tô cho người không có giấy phép lái xe điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả Nguyễn Ngọc Q chết của bị cáo Trần Viết P đã vi phạm vào khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, khẳng định hành vi của bị cáo Trần Viết P cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 264 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Viết P theo điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi:
Bị cáo Trần Viết P là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng chủ quan đã vi phạm pháp luật; trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và giao dục chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Viết P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Viết P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đại diện hợp pháp của bị hại xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng 01 tình tết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
Về hình phạt: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt vì vậy xử phạt bị cáo hình phạt Cải tạo không giam giữ cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta đối với người phạm tội( Căn cứ Điều 36 của Bộ luật Hình sự)
Bị cáo hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối bị cáo (Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự).
[5] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Bị cáo là lao động tự do, không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Trần Viết P và gia đình bà Trương Thị Nữ N1 (chủ xe ô tô BKS 74D-003.26) đã thỏa thuận và đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Nguyễn Ngọc Q số tiền 30.000.000 đồng; cho công ty TNHH MTV P1(thiệt hại xe ô tô BKS 74F-000.54) số tiền 93.250.000 đồng. Tại phiên Tòa hôm nay, đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của công ty TNHH MTV P1 vắng mặt tại phiên Tòa nhưng tài liệu trông hồ sơ thể hiện không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu: xe ô tô BKS 74F-000.54 và giấy tờ liên quan đến xe ô tô BKS 74F-000.54; Trả lại xe ô tô BKS 74D-003.26 và giấy tờ liên quan đến xe ô tô BKS 74D-003.26; Trả giấy phếp lái xe hạng A1, E, số [...] cho ông Hà Xuân T2. Việc trả lại là có căn cứ đúng quy định pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Giấy phép lái xe hạng C, số D, mang tên bị cáo Trần Viết P hiện tạm giữ theo hồ sơ vụ án; thấy rằng giấy phép lái xe này không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.(Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự)
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Viết P phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Trần Viết P phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; Điều 36; điểm b,i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Viết P 15(mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự huyện C nhận được quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo.
Giao bị cáo Trần Viết P cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.Trường hợp bị cáo Trần Viết P thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
2.Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Không áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Viết P .
3 Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, trả lại cho bị cáo Trần Viết P 01 giấy phép lái xe hạng C, số D, mang tên Trần Viết P ( hiện đang tạm giữ theo hồ sơ vụ án)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáoTrần Viết P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Thu Hà |
6
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm (giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Viết Phương: Giao cho người không dủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ
