|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HSST Ngày 15 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Bá Tấn - ông Nguyễn Đình Thanh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Bá Kiên - Chức vụ: Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Ngân - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 06/QĐHPT ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Thị T (tên gọi khác: Không): Giới tính: Nữ; sinh ngày 06 tháng 02 năm 1983 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam: Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Nghề nghiệp: Lao động tự do: Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không: Trình độ học vấn: 9/12: Con ông Trịnh Nhật L và bà Lê Thị H; Chồng: Nguyễn Đ (đã ly hôn): Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012: Tiền án, tiền sự: Không: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/8/2023 đến ngày 26/8/2023 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 17/3/2024 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt).
- Nhân chứng: Anh Phan Xuân P, sinh năm 1993 (có mặt); anh Phan Anh T1, sinh năm 1983 (vắng mặt); đều trú tại: xóm Đ, xã Đ, Y, Nghệ An.
- Chị Đoàn Thị H1, sinh năm 1968; trú tại thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Trịnh Thị T phạm bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 02 năm 2023, Trịnh Thị T đã đặt của một người (không rõ tên tuổi, nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội Facebook qua tin nhắn Messenger làm 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) giả sau đó T sử dụng 02 GCNQSDĐ giả thế chấp cho chủ nợ để chủ nợ không thúc giục việc T trả tiền nợ đã vay trước đó và sử dụng 02 GCNQSDĐ giả thế chấp để vay tiền, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Từ tháng 02 năm 2022, T nhiều lần vay tiền của chị Đoàn Thị H1 với tổng số tiền vay là 400.000.000 đồng, chị H1 không tính lãi suất khoản vay này. Đến tháng 10 năm 2022, T đặt một người (không rõ tên tuổi, nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội Facebook qua tin nhắn Messenger làm giả 01 GCNQSDĐ đối với thửa đất số 1947, tờ bản đồ số 08 thuộc xóm X, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An, số phát hành DE 420704 mang tên Trịnh Thị T (lúc này thửa đất đang được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho Trịnh Thị T) với giá 3.000.000 đồng. Đến ngày 23/02/2023, khi chị H1 đến nhà tìm gặp T yêu cầu trả tiền T đã vay của chị, do chưa có tiền trả, T đã lấy GCNQSDĐ giả có số phát hành DE 420704 mà T đã đặt làm trước đó đưa cho chị H1 đồng thời lập hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị H1 nhưng không đưa đi công chứng mục đích để chị H1 tin tưởng không thúc giục T trả nợ. Chị H1 không biết GCNQSDĐ mà T đưa cho mình là giả nên đã đồng ý. Sau đó T đã trả nợ cho chị H1 số tiền 112.000.000 đồng, còn nợ chị H1 số tiền 288.000.000 đồng, số tiền này chị H1 và T thống nhất với nhau là hàng tháng T sẽ trả dần cho chị H1 một khoản tiền cho đến khi nào trả hết nợ.
Lần thứ hai: Từ đầu tháng 10 năm 2022, T vay của anh Phan Anh T1, sinh số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất 2.000 đồng/1 triệu đồng/ngày và T đã trả tiền lãi 02 tháng cho anh T1 là 36.000.000 đồng. Đến ngày 01/12/2022, T tiếp tục vay của anh T1 400.000.000 đồng nên thống nhất với anh T1 viết lại giấy vay tiền với tổng số tiền vay là 700.000.000 đồng và thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa số 1833, tờ bản đồ số 17 thuộc xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An, số phát hành DD 031004 của vợ chồng Trịnh Thị T và anh Nguyễn Đ, sinh năm 1972, hai bên thỏa thuận lãi suất của tổng khoản vay là 2.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến đầu tháng 3 năm 2023, T muốn lấy lại GCNQSDĐ đã thế chấp cho anh T1 nên đã tiếp tục đặt của một người (không rõ tên tuổi, nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội Facebook qua tin nhắn Messenger làm 01 GCNQSDĐ giả đối với thửa đất số 1047, tờ bản đồ số 17, địa chỉ tại xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An, số phát hành DA 434533 mang tên vợ chồng Trịnh Thị T và anh Nguyễn Đ với giá 3.000.000 đồng (Thửa đất này vợ chồng T, Đ đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Võ Văn T2, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1977, trú tại xóm N, xã Đ, huyện Y vào ngày 25/5/2021). Sau khi nhận được GCNQSDĐ giả này, ngày 11/3/2023, T đưa đến nhà anh T1 nói đây là GCNQSDĐ của mảnh đất gia đình T đang ở và muốn dùng để đổi GCNQSDĐ mà T đã thế chấp trước đó để đưa đi vay tiền cho con gái đi nước ngoài, anh T1 không biết giấy chứng nhận mà T đưa đến đồi là giả nên đã đồng ý. Đối với khoản vay này, T đã trả lãi hàng tháng cho anh T1 đến tháng 4 năm 2023 với tổng số tiền 166.000.000 đồng, tổng cộng T đã trả tiền lãi cho anh T1 202.000.000 đồng. Từ tháng 5 năm 2023, T không có khả năng trả lãi, anh T1 nhiều lần yêu cầu T trả tiền nhưng không được vì vậy anh T1 đã đưa GCNQSDĐ số phát hành DA 43453 của T đến văn phòng công chứng kiểm tra và biết là giả nên đã làm đơn tố giác Thuyết. Hiện tại, T đã trả cho anh T1 hết toàn bộ số tiền gốc 700.000.000 đồng.
Lần thứ ba: Tháng 12 năm 2022, T vay số tiền 750.000.000 đồng của anh Phan Xuân P và thế chấp 01 GCNQSDĐ đối với thửa đất số 1947, tờ bản đồ số 08 thuộc xóm X, xã Đ, huyện Y, số phát hành DE 420704 mang tên Trịnh Thị T. Khoảng đầu tháng 02 năm 2023, T tiếp tục liên lạc với một người (không rõ tên tuổi, nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội Facebook qua tin nhắn Messenger đặt làm giả 01 GCNQSDĐ đối với thửa đất số 1833, tờ bản đồ số 17 thuộc xóm N, xã Đ, huyện Y, có số phát hành DD 031004 mang tên vợ chồng Trịnh Thị T và anh Nguyễn Đ (thửa đất này trên thực tế lúc này vẫn do vợ chồng T, Đ sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai vợ chồng) và 01 GCNQSDĐ đối với thửa đất số 1647, tờ bản đồ số 15 thuộc xóm N, xã Đ, huyện Y, số phát hành DD 566197 với giá 6.000.000 đồng (thửa đất này trên thực tế là của T mua nhưng đứng tên bố mẹ là ông Trịnh Nhật L, sinh năm 1954 và bà Lê Thị H, sinh năm 1961). Mục đích T đặt làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chứng minh tài sản làm thủ tục cho con gái đi du học tại Mỹ. Ngày 09/02/2023 T tiếp tục vay anh P 50.000.000 đồng. Ngày 10/02/2023, T tiếp tục vay anh P 241.000.000 đồng tuy nhiên, lúc này anh P yêu cầu phải có tài sản thế chấp thì mới đồng ý cho T vay. Vì vậy T đã lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của thửa đất số 1833, có địa chỉ tại xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An, có số phát hành DD 031004 mà T đã đặt làm giả trước đó thế chấp cho anh P nên anh P đồng ý và cho vay 241.000.000 đồng.
Lần thứ tư: Ngày 29/3/2023, T tiếp tục vay anh P số tiền 400.000.000 đồng, anh P yêu cầu phải có tài sản thế chấp mới cho T vay tiền nên T tiếp tục lấy 01 GCNQSDĐ giả đối với thửa đất số 1647, tờ bản bản đồ 15, thuộc xóm S, xã Đ, huyện Y, số phát hành DD 566197 đã đặt làm trước đó thế chấp cho anh P để vay số tiền 400.000.000 đồng thì anh P đồng ý. Cùng ngày, T tiếp tục vay số tiền 100.000.000 đồng và không thế chấp gì.
Đến ngày 11/4/2023 T tiếp tục vay số tiền 200.000.000 đồng và ngày 18/4/2023 tiếp tục vay số tiền 56.000.000 đồng. Tổng số tiền T vay của anh P là 1.797.000.000 đồng với lãi suất là 2.000 đồng/1 triệu đồng/ngày và T đã trả cho anh P 78.000.000 đồng tiền lãi. Hiện tại, T đã trả cho anh P tổng số tiền 1.050.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển nhượng 01 mảnh đất số 1947 có địa chỉ tại xóm X, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An mà T đã thế chấp cho anh P nêu trên với giá 700.000.000 đồng và 350.000.000 đồng tiền mặt. Hiện tại T đang còn nợ anh P số tiền 747.000.000 đồng.
Ngày 17/8/2023, Trịnh Thị T đến Công an tỉnh N xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, bên trong gắn sim số 0961.705.083.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã thu giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành DA 434533 do anh Phan Anh T1 giao nộp, 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành DE 420704 do chị Đoàn Thị H1 giao nộp (đều nghi là giả). Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với 02 mẫu tài liệu này (ký hiệu A1, A2).
Tại kết luận giám định số 320/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 24/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh N đã kết luận: "02 (hai) “GIẤY CHỨNG NHẬN NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT” gửi giám định ký hiệu A1, A2 là giả” (BL 88)
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành DD 566197 và DE 031004 do anh Phan Xuân P giao nộp (đều nghi là giả). Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với 02 mẫu tài liệu này (ký hiệu A1, A2).
Tại kết luận giám định số 396/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 22/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh N đã kết luận: “02 (hai) “GIẤY CHỨNG NHẬN NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT” gửi giám định ký hiệu A1, A2 là giả” (BL 90)
Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKS-YT ngày 15/3/2014 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố: Bị cáo Trịnh Thị T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 2 Điều 341 BLHS;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
+/Áp dụng khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS:
-Xử phạt: Trịnh Thị T từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thủ thách 5 (năm) năm.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
- Về vật chứng: Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên; của Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Căn cứ buộc tội: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp lời khai của bị cáo, các nhân chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 02 năm 2023, Trịnh Thị T đã có hành vi đặt của một người (không rõ tên tuổi, nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội Facebook qua tin nhắn Messenger làm 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, T sử dụng 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để thế chấp cho chủ nợ để chủ nợ không thúc giục việc trả tiền nợ đã vay trước đó và sử dụng 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng giả đất giả thế chấp để vay tiền, cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 23/02/2023, khi chị Đoàn Thị H1 đến nhà thúc giục trả số tiền vay nợ 400.000.000 đồng, T đã đưa 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, có số phát hành DE 420704 cho chị H1 và lập hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị H1 để chị H1 tin tưởng, không thúc giục việc trả nợ nữa.
Lần thứ hai: Vào ngày 11/3/2023, T mang 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, có số phát hành DA 434533 đến nhà anh Phan Anh T1 để đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành DD 031004 mà Thuyết thế chấp cho anh T1 trước đó.
Lần thứ ba: Vào ngày 10/02/2023, T đến nhà anh Phan Xuân P thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, có số phát hành DD 031004 để vay của anh P số tiền 241.000.000 đồng.
Lần thứ tư: Vào ngày 29/3/2023, T đến nhà anh Phan Xuân P thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, có số phát hành DD 566197 để vay của anh P số tiền 400.000.000 đồng.
Hành vi làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất của bị cáo Trịnh Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo về tội “ sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 2 Điều 341 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc làm của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Việc điều tra, truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là việc làm hết sức cần thiết có tác dụng giáo dục và ngăn ngừa chung đối với những ai đang có ý định làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào nhưng bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã lên Công an tỉnh N đầu thú. Các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ vào nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại d khoản 1 Điều 3 BLHS và mục đích của hình phạt cần cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật khi lượng hình; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo tốt, có địa chỉ cư trú rõ ràng. Vì vậy chưa cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho gia đình và địa phương giám sát giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ răn đe và giáo dục thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng khoản 4 Điều 341 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp hay thu nhập ổn định, nợ nần nhiều, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
+/ Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, bên trong gắn sim số 0961.705.083 đã qua sử dụng thu giữ của Trịnh Thị T là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp quỹ nhà nước.
( Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Thi hành án dân sự huyện Y tại phiếu nhập kho số NK: 0026 ngày 26/01/2024).
+/ Đối với 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành DA 434533, DE 420704, DD 566197 và DE 031004 đều là giả, được lưu tại hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh, hình phạt:
+/ Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS
-Xử phạt: Trịnh Thị Thuyết 30 (ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian là 5 (năm) năm về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Giao bị cáo Trịnh Thị T cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
[2]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS.
+ Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, bên trong gắn sim số 0961.705.083 đã qua sử dụng thu giữ của Trịnh Thị T là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp quỹ nhà nước.
(Các vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Thi hành án dân sự huyện Y tại phiếu nhập kho số NK: 0026 ngày 26/01/2024).
+ Đối với 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành DA 434533, DE 420704, DD 566197 và DE 031004 đều là giả, được lưu tại hồ sơ vụ án.
[3] Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trịnh Thị T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nhung |
Bản án số 41/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 41/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị Thuyết - Làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức
