Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 04-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Luân và bà Lê Thị Cẩm Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 07 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an H2 xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 30/05/2024 và thông báo về việc hoãn phiên toà số 07/2024/TB-TA, ngày 07/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 8 năm 1983; Nơi thường trú: tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Trần Đình H, sinh năm: 1934; Con bà: Võ Thị Xuân H1, sinh năm: 1948; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm: 1986; Con: 01 đứa, sinh năm 2015

Tiền án: Bản án số 41/2022/HSST, ngày 13/7/2022 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 28/5/2023, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích lại phạm tội mới; Tiền sự: Không

Quá trình nhân thân:

Bản án số 24/HSST, ngày 11/11/2003 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo khoản 1, Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999.

Bản án số 07/HSST, ngày 21/4/2005, của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999; Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 24/HSST, ngày 11/11/2003 thành hình phạt chung của hai bản án là 35 tháng tù giam; đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.

Quyết định số 02/QĐ-TA, ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý, đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đã hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang từ ngày 22/3/2024 cho đến nay, (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Võ Thị Xuân H1, sinh năm 1948; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt)

- Người chứng kiến:

  1. Ông Lê Quang T2, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, (vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Trọng V, cấp bậc: Thượng uý, chức vụ: Phó Đội trưởng đội Cảnh sát bảo vệ cùng 02 chiến sỹ tại điểm cầu thành phần hỗ trợ phiên tòa, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh H2(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 10 phút ngày 22/3/2024, tại ngõ C, đường N, tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ công tác Công an thị xã K bắt quả tang Trần Văn T đang cất giấu một gói giấy bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng ở trong túi quần của mình. Trần Văn T khai nhận gói chất bột màu trắng là Heroine, Trần Văn T mua về để sử dụng. Tổ công tác Công an thị xã K lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa Trần Văn T về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra, Trần Văn T khai nhận: Trong một lần đi chơi tại phường K, thị xã K, Trần Văn T gặp một người đàn ông tên “Nam” (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể); qua nói chuyện biết được người này bán ma túy nên T xin số điện thoại để khi nào cần thì liên lạc mua ma túy về sử dụng. Sáng ngày 22/03/2024, Trần Văn T gọi điện thoại cho người đàn ông tên “Nam” hỏi mua 400.000₫ Heroine để về sử dụng thì người này đồng ý và hẹn giao hàng tại cổng trường tiểu học H3, thuộc tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi đặt mua ma túy, Trần Văn T điều khiển xe đạp điện (xe đạp điện thuộc sở hữu của mẹ là Võ Thị Xuân H1, T mượn để mua đồ cá nhân) đến điểm hẹn để mua ma túy. Khi đến địa điểm đã hẹn, Trần Văn T đừng chờ khoảng 10 phút thì thấy một người đàn ông đi xe mô tô Exciter màu xanh (T không nhớ rõ biển kiểm soát) đi đến. Trần Văn T hỏi có phải tên “Nam” không thì người đó nói phải. Người đàn ông đó đưa cho T một gói giấy bạc, bên trong chứa ma túy Heroine, Trần Văn T bỏ vào trong túi quần của mình, đồng thời đưa cho người đó 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Trần Văn T điều khiển xe đạp điện đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đi đến ngõ C, đường N, tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì bị Tổ công tác Công an thị xã K phát hiện thu giữ. Sau khi liên lạc mua túy, Trần Văn T làm rơi mất chiếc điện thoại khi nào không biết.

Kết luận giám định số 520/KL-KTHS, ngày 26/3/2024 của phòng K Công an tỉnh H2 kết luận: Chất bột màu trắng chứa trong 01 gói giấy bạc, kích thước (2,0x1,0)cm,, thu giữ của Trần Văn T, gửi giám định là Heroine, có tổng khối lượng 0,1904 gam. Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I.A, STT 09, Nghị định 57 ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ các vật chứng bao gồm: Thu của Trần Văn T 01 gói giấy bạc, kích thước (2,0x1,0)cm, chứa 0,1904 gam Heroine (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0243 gam, còn lại: 0,1661 gam); 01 chiếc xe đạp điện màu đỏ- trắng, nhãn hiệu AUTOBIKE FAST, số khung: AD148VN000153. Chiếc xe đạp điện đã trả cho bà Võ Thị Xuân H1 là chủ sở hữu, do bà H1 không có lỗi trong việc Trần Văn T sử dụng đi mua ma túy để sử dụng. Các vật chứng còn lại chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh chờ xử lý.

Cáo trạng số 44/CT –VKSTXKA ngày 24/05/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn T mức án từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang là ngày 22/3/2024; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 01(một)gói giấy bạc, kích thước (2,0x1,0)cm, chứa 0,1904 gam Heroine (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0243 gam, còn lại: 0,1661 gam) cùng toàn bộ vỏ bao gói cũ được niêm phong trong 01(một) phong bì thư.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố, với Kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh H2 và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma tuý nên sáng ngày 22/3/2024, Trần Văn T đi xe đạp điện đến trước cổng trường tiểu học H3, thuộc tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mua của một người đàn ông không quen biết một gói Heroine, có khối lượng 0,1904 gam, với giá 400.000 đồng để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, sau khi mua được ma túy, Trần Văn T đi đến ngõ C, đường N, tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an thị xã K bắt quả tang.

Với hành vi mua 0,1904 gam Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo Trần Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo đã bị Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự số 41/2022/HSST ngày 13/7/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/5/2023, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Hành vi tàng trữ bất hợp pháp 0,1904 gam Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng các loại tội phạm, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã nhiều lần bị xét xử về tội phạm liên quan đến ma tuý và biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo, có bố và mẹ đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì, hạng ba được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, yếu tố lỗi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như phân tích trên và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo việc cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung đối với toàn xã hội.

Trong vụ án này, bị cáo khai nhận số ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng do người đàn ông không quen biết (không rõ họ tên, địa chỉ) bán cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để xử lý. Kiến nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo luật định; Đối với bà Võ Thị Xuân H1 cho bị cáo mượn xe đạp để đi mua ma tuý, bà H1 không biết Trần Văn T mượn xe đạp để thực hiện hành vi phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là con nghiện, không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01(một) túi nilon trong suốt chứa 0,1661gam chất ma tuý Heroine(Mẫu còn lại sau giám định) cùng toàn bộ vỏ bao gói cũ được niêm phong trong 01(một) phong bì thư, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt:

Xử phạt Trần Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang là ngày 22/3/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) túi nilon trong suốt chứa 0,1661gam chất ma tuý Heroine(Mẫu còn lại sau giám định) cùng toàn bộ vỏ bao gói cũ được niêm phong trong 01(một) phong bì thư, có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỶ THUẬT HÌNH SỰ”, tại mép dán có chữ ký của các thành viên hội đồng và Trần Văn T

(Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/05/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã K với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh:
  • - Công an thị xã Kỳ Anh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh HT;
  • - Phòng PC81 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; người có QL,NV liên quan;
  • - Lưu: HS; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 41
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger