|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày 16 - 12 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thạo;
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lã Văn Minh;
Ông Nguyễn Ngọc Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Sầm Thị Thao – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 16/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLST - HS, ngày 29/11/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Đàm Văn C, sinh ngày 07 tháng 01 năm 1992 (có mặt);
Nơi sinh và cư trú: thôn A, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Sán Chay (Cao lan); giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đàm Văn C1 và bà Nguyễn Thị P; vợ: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1993 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2014.
Tiền án: Tiền sự: Không.
Bị cáo bị quả tang và tạm giữ từ ngày 05/9/2024, tạm giam từ ngày 11/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn văn L, sinh năm 1993 (vắng mặt);
- Ngô Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt);
- Phạm Văn X, sinh năm 1988 (vắng mặt);
- Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959 (vắng mặt);
- Tằng Văn Q, sinh năm 1987 (vắng mặt);
- Ngô Văn T2, sinh năm 1987 (vắng mặt);
Nơi cư trú: thôn R, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: thôn R, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: thôn R, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: thôn R, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 05/9/2024, Tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã T, huyện S phát hiện Đàm Văn C tại đoạn đường vào Nghĩa trang N thôn N, xã T, huyện S có biểu hiện nghi vấn tàng trữ ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra phát hiện C cầm 01 (một) ống nhựa mầu đen, bên trong quần 01 (một) ống nhựa mầu xanh, sọc trắng, 01 (một) ống nhựa mầu trắng, sọc đỏ. Các ống nhựa đều được hàn kín hai đầu bên trong đựng chất cục bột mầu trắng; thu giữ của Cần 01 điện thoại Nokia, 01 xe mô tô BKS 98N2- 8110. Tổ công tác tiến hành lập biên bản niêm phong tại chỗ các đồ vật đã thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đàm Văn C rồi đưa C về trụ sở Công an huyện S để làm việc. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể xác định Đàm Văn C dương tính với chất ma túy.
Tiến hành trưng cầu giám định chất cục bột màu trắng là vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Đàm Văn C.
Kết quả: Kết luận giám định số 1954/KL- KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Chất cục bột mầu trắng đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có 01 (một) đoạn mầu đen; 01 (một) đoạn mầu xanh sọc trắng và 01 (một) đoạn mầu trắng sọc đỏ) là ma túy, có khối lượng 0,253 gam, loại Heroine”.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 29/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố Đàm Văn Cần về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo C khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 05/9/2024, C đang ở nhà riêng tại thôn Đ, xã T, huyện S thì L gọi điện rủ C đi mua ma túy về cùng sử dụng, C đồng ý, L đi xe mô tô BKS 98N2- 8110 đến đón C, L đưa C đến ngã ba sân bóng thôn N, xã Y, L đưa cho C 600.000 (sáu trăm nghìn đồng), C mua của Tằng Văn Q được 05 đoạn ống nhựa nhiều mầu khác nhau, bên trong các ống nhựa đều chứa ma túy Heroine. Cần, L mỗi người sử dụng ngay 01 ống. 03 ống còn lại, C cất giấu 02 ống vào trong quần đang mặc và cầm 01 ống trên tay. L chở C đi về xã T, huyện S. Khi đến đoạn đường thôn N, xã T, thì bị Công an phát hiện bắt giữ quả tang. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã đối chất giữa L với C nhưng L không thừa nhận rủ C đi mua ma tuý, không thừa nhận đã đưa tiền cho C mua ma tuý. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, bị cáo không kêu oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Đàm Văn C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát luận tội, bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án, trong giai đoạn điều tra, truy tố. Hội đồng xét xử thấy: Điều tra viên, Kiểm sát viên, đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình, bị cáo cũng thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang được Cơ quan điều tra lập vào hồi 12 giờ 10 phút ngày 05/9/2024 (bút lục số 20,21,22), phù hợp với kết luận giám định số 1954/KL – KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (bút lục số 41), phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra (bút lục số 61 - 72).
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ, mục đích từng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về các chất ma tuý của nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương, người sử dụng ma túy là một trong những nguyên nhân lây lan một số bệnh nguy hiểm và phát sinh các tội phạm khác. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,253 gam Heroine. Như vậy có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận: Đàm Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố Đàm Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa có hành vi vi phạm pháp luật nào bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Bị cáo không có tài sản nên ngoài hình phạt chính không áp dụng hình phạt tiền để phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Vật chứng của vụ án gồm có: Phong bì thư ký hiệu “02”, bên trong đựng ma túy Heroine còn lại sau giám định, đây là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo; 01 xe môtô biển kiểm soát 98N2- 8110 do Nguyễn Văn L mượn của anh Ngô Văn T là tài sản của anh Ngô Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho anh Ngô Văn T.
[6] Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Đàm Văn C khai Nguyễn Văn L rủ đi mua ma túy, L đưa cho C 600.000đồng để mua ma túy của Tằng Văn Q. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa C với L, Q nhưng cả L và Q đều không thừa nhận lời khai của C nên không có cơ sở để xử lý đối với L và Q.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Xử phạt: Đàm Văn C 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.
- Tịch thu tiêu hủy Phong bì thư ký hiệu “02”, bên trong đựng ma túy Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu sau giám định được niêm phong bằng hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đàm Văn C.
Trả lại Đàm Văn C 01 điện thoại di động NOKIA được niêm phong trong phong bì ký hiệu “02”; Trả lại anh Ngô Văn T 01 xe mô tô nhã hiệu WAVE biển kiểm soát 98N2- 8110 số máy, số khung 068041.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thạo |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ĐÀM VĂN CẦN TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY