Hệ thống pháp luật

THÀNH PHỐ HỘI AN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 41/2024/HS.ST

Ngày 29/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1) Ông Lê Tấn Hoành
  • 2) Ông Hồ Quý Vĩnh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với:

- Bị cáo: Lê Văn M, sinh ngày 19/01/1986; tại Thừa Thiên Huế.

Nơi cư trú: thôn T, xã C, thành phố H, tỉnhQuảng N.

Nghề nghiệp: Kỹ sư; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn T và bà Lê Thị Bạch Y; bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 4 anh chị em; vợ tên Võ Thị Thu S; có 02 con tên Lê Võ Thanh P, sinh năm 2013 và Lê Võ Khánh A, sinh năm: 2021

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại.

- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm: 1970

Trú tại: C N, phường T, thành phố H, tỉnhQuảng N. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Hữu P1, sinh năm: 1988

Trú tại: tổ C, thôn B, xã C, thành phố H, tỉnhQuảng N. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • 1) Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1976

Trú tại: H P, phường T, thành phố H, tỉnhQuảng N. Vắng mặt.

  • 2) Ông Nguyễn Đình K, sinh năm: 1993

Trú tại: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 13/4/2024, Lê Văn M nhậu cùng một số thợ xây tại nhà thì có người yêu cầu M trả tiền công thợ. Lúc này, M nhớ ông Nguyễn Hữu T1 còn thiếu tiền thiết kế, thi công nhà ở tại A, phường C, thành phố H nên điện thoại cho ông T1 yêu cầu thanh toán nhưng ông T1 không đồng ý và nói M xuống nhà mình. Do M đã uống rượu nên Nguyễn Hữu P1 - là thợ sơn vôi đang ngồi nhậu với M điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter BKS 92C1-396.72 chở M đến Homestay T, tìm ông T1 để nói chuyện và lấy tiền. Khi đến nơi, M một mình đi vào trong nhà, không thấy ông T1 nên M bực tức, dùng chân và ghế gỗ tại quầy lễ tân đập bể 02 tấm kính cường lực trên bàn gỗ, 01 màn hình máy vi tính để bàn, 01 bàn phím, 01 thanh ram máy tính, 01 đèn bàn tại quầy lễ tân. Thấy vậy, P1 đi vào vào can ngăn và kéo M ra ngoài; trong lúc đi ra M dùng chân đạp vào cửa kính cường lực phòng khách làm một bên cửa kính bị bể nát. Sau đó, P1 chở M về nhà.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-ĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H xác định tài sản bị hư hỏng hoàn toàn, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 3.770.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSHA-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Hủy hoại tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Hủy hoại tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 10 triệu đến 15 triệu đồng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị HĐXX tuyên: Lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa đoạn video ghi lại diễn biến sự việc và 01 đĩa VCD; trả lại cho ông Nguyễn Hữu T1 một số mảnh vỡ thủy tinh, 01 màn hình máy tính để bàn hiệu DAHUA LED Monitor DHI-LM22-B200H; 01 bàn phím hiệu E-3LUE; 01 ram máy tính hãng GEIL 8GB; 01 ghế gỗ có lưng tựa, kích thước 35x100cm; 01 đèn để bàn.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu, nên không đề nghị.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn M thừa nhận hành vi phạm tội của mình và thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phốHội An, tỉnh Quảng Nam và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng củaCơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Văn M khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 13/4/2024, bị cáo đến nhà ông Nguyễn Hữu T1 để đòi tiền công thiết kế, xây dựng nhưng không gặp. Bị cáo bức xúc dùng chân và ghế gỗ đập phá làm vỡ kính cửa, kính mặt bàn và làm hư hỏng hoàn toàn một số tài sản khác; giá trị tài sản thiệt hại theo định giá là 3.770.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn M đã phạm tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản thuộc sở hữu của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại đều vi phạm và bị pháp luật xử lý nhưng bị cáo đã có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và gia đình bị cáo có người có công cách mạng, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, được Ủy ban nhân dân huyện Q tặng giấy khen; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng và nghề nghiệp ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp và cũng đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 725/QĐ, ngày 10/7/2024 trả lại cho bà Nguyễn Thị P2 01 xe mô tô Exciter BKS 92C1-396.72 là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo Lê Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 178; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn M 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng)

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên:

+ Lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB chứa đoạn video ghi lại diễn biến sự việc và 01 đĩa VCD;.

+ Trả lại cho ông Nguyễn Hữu T1 một số mảnh vỡ thủy tinh, 01 màn hình máy tính để bàn hiệu DAHUA LED Monitor DHI-LM22-B200H; 01 bàn phím hiệu E-3LUE; 01 ram máy tính hãng GEIL 8GB; 01 ghế gỗ có lưng tựa, kích thước 35x100cm; 01 đèn để bàn.

(Vật chứng trên hiện được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hội An theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2024).

Về án phí: Áp dụng các Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn M phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (29/8/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND thành phố Hội An;
  • - Công an thành phố Hội An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Chi cục THA DS thành phố Hội An;
  • - Thành phần tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS.ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM về hủy hoại tài sản

  • Số bản án: 41/2024/HS.ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Văn Minh phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger