Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/ HS-ST

Ngày: 22 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng
  • -Các hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Trước
    2. Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
  • -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
  • -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Ông Dương Vũ Trường Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 34/2024/ TLST- HS ngày 22 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với:

  • -Bị cáo: Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày: 30/4/2001, tại Vĩnh Long.
  • Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Chí T1, sinh năm: 1976; con bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1974; Anh chị em ruột: có 02 người lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất bị cáo; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
  • Ngày 17/12/2023 điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn làm tử vong 01 người. Ngày 12/01/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  • -Bị hại: Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm: 1959 ( Đã chết)
  • Nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
  • -Đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Hữu B:
  • Anh Nguyễn Phạm Trường D, sinh năm: 1988 ( có mặt).
  • Nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  • -Người làm chứng:
  • Anh Lê Văn V, sinh năm: 2003 ( có mặt).
  • Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/12/2023, sau khi đã uống rượu và bia cùng với bạn tại ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Nguyễn Thị Thanh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64B2-564.42 đi về nhà của T thuộc ấp P, xã P, huyện L. Tuyền điều kiển xe lưu thông trên đường nông thôn hướng cầu C - Quốc lộ A. T điều khiển xe với vận tốc khoảng 40 km/h, chạy cách lề phải khoảng 1,5 mét.

Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, T điều khiển xe đến đoạn đường thuộc ấp P, xã H thì T phát hiện phía trước cách xe của T khoảng 08m có ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1959, cư trú ấp P, xã H, huyện L đi bộ qua đường từ lề trái sang lề phải theo chiều xe của T đang lưu thông.

Lúc này, T không giảm tốc độ, không có tín hiệu đèn, còi mà vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy tới và tránh về bên phải vượt qua ông B. Nhưng do khoảng cách quá gần, T vừa vượt lên thì ông B vẫn tiếp tục đi đến nên tay cầm bên trái xe của T điều khiển va chạm vào người ông Nguyễn Hữu B dẫn đến xe và người ngã xuống đường.

Hậu quả: T và ông B bất tỉnh, được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh V. Sau đó ông B tử vong tại bệnh viện. Riêng Nguyễn Thị Thanh T bị xay xát nhẹ.

Kết luận giám định pháp y số 32/KLGĐTT-TTPY ngày 22/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh V: nguyên nhân tử vong của Nguyễn Hữu B là do ngạt đường hô hấp - chấn thương đầu mặt.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Thị Thanh T thời điểm lúc 18 giờ 07 phút ngày 17/12/2023 là 195 mg/dl.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa bê tông bằng phẳng. Hiện trường đo vẽ vào lề phải hướng cầu chữ Y - Quốc lộ A; mặt đường rộng 3,50m; T2 vùng va chạm đo vào lề là 1,25m.

Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám phương tiện và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được. Xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do Nguyễn Thị Thanh T điều khiển xe mô tô 64B2-564.42 không nhường đường cho người đi bộ qua đường. Vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu bia 2019.

Trong quá trình điều tra, đại diện gia đình bị hại yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự với số tiền 120.000.000đ. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường xong. Đại diện bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Cáo trạng số 34/CT-VKS, ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, lỗi trong vụ án thuộc về bị cáo, bị cáo tham gia giao thông không nhường đường cho người đi bộ gây tai nạn cho bị hại. Quá trình điều tra không có ai ép cung bị cáo.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T mức án 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, nên không xem xét.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 64B2-564.42; 01 giấy phép lái xe và 01 xe số [...] tên Nguyễn Thị Thanh T.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

-Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, bị cáo hứa từ nay về sau sẽ chấp hành tốt quy định của pháp luật, xin Hội đồng xét xử, xử bị cáo mức hình phạt nhẹ để bị cáo có cơ hội sửa đổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định.

[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:

Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 17/12/2023, sau khi đã uống rượu và bia có nồng độ cồn trong máu 195 mg/dl, Nguyễn Thị Thanh T điều khiển xe mô tô 64B2-564.42 lưu thông trên đoạn đường nông thôn hướng cầu C - Quốc lộ A. Khi đến đoạn đường thuộc ấp P, xã H, T điều khiển xe không nhường đường cho ông Nguyễn Hữu B đang đi bộ qua đường từ lề trái sang lề phải theo hướng xe Tuyền đang lưu thông. Hậu quả xảy ra tai nạn làm ông Nguyễn Hữu B tử vong.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T đã phạm vào tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố là đúng người, đúng tội.

[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo được học luật giao thông và được cấp giấy phép lái xe nhưng khi tham gia giao thông thấy người đi bộ qua đường bị cáo không giảm tốc độ, không có tín hiệu đèn, còi cho người qua đường biết, đồng thời cũng không nhường đường cho người đi bộ gây tai nạn cho người bị hại, dẫn đến bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác, gây đau thương mất mát cho gia đình người bị hại. Vì vậy cần phải có một hình phạt thích đáng để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong vụ án cũng có một phần lỗi của bị hại khi đi qua đường thiếu chú ý quan sát lưu lượng xe tham gia giao thông trên đường để đảm bảo an toàn nên xảy ra tai nạn, còn lỗi của bị cáo là không nhường đường cho bị hại, nhưng việc không nhường đường là do bị cáo nghĩ lách về bên phải sẽ tránh được bị hại, nhưng do khoảng cách gần bị cáo xử lý tình huống kém chứ không phải do bị cáo phóng nhanh vượt ẩu, sự việc xảy ra là ngoài sự phán đoán của bị cáo. Bị cáo cũng biết lỗi và thấy được trách nhiệm của bị cáo đối với bị hại nên gia đình bị cáo cũng đến thăm hỏi và chia buồn cùng với gia đình bị hại và đã khắc phục bồi thường xong cho gia đình bị hại, bản thân bị cáo cũng bị thương tích sau khi va chạm và cũng nằm viện điều trị nhiều ngày. Trước khi xảy ra tai nạn bị cáo cũng có việc làm ổn định, có bạn trai đang tính chuyện hôn nhân, bị cáo là nữ giới, có tuổi đời còn trẻ. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa đổi bản thân, Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4]. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục bồi thường cho gia đình bị hại, gia đình bị cáo có người thân có công cách mạng, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong. Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo xe mô tô và giấy phép lái xe của bị cáo.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9.]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s, khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 22/7/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 64B2-564.42; 01 giấy phép lái xe và 01 xe số [...] tên Nguyễn Thị Thanh T ( Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh T nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND Tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND huyện Long Hồ;
  • -CC THADS huyện L;
  • -Công an huyện L;
  • -Phòng hồ sơ Công an tỉnh V;
  • -UBND xã P;
  • -Bị cáo;
  • -Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Công Bằng


TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 06/2024/TB-TA

Long Hồ, ngày 09 tháng 8 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, Điều 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Xét thấy bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST, ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long có sai sót trong khâu đánh máy cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

  1. Tại dòng thứ 09 đến dòng thứ 10 từ trên xuống của trang 06 Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 64B2-564.42; 01 giấy phép lái xe và 01 xe số [...] tên Nguyễn Thị Thanh T...”
  2. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 64B2-564.42; 01 giấy phép lái xe số [...] tên Nguyễn Thị Thanh T..."

Nơi nhận:

  • -TAND Tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND huyện Long Hồ;
  • -CC THADS huyện Long Hồ;
  • -Công an huyện Long Hồ;
  • -Phòng hồ sơ CA tỉnh Vĩnh Long;
  • -UBND xã Phú Quới-LH-VL;
  • -Bị cáo;
  • -Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • -Lưu hồ sơ vụ án./.

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Công Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/ HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 41/2024/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger