TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HS-ST
Ngày 19 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Ngọc Ngư;
- Ông: Nguyễn Văn Thuyết.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Nguyễn Minh Tốn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Phan Thanh T, sinh ngày 30 tháng 06 năm 2003. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
- Nơi cư trú: Làng M, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không.
- Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
- Họ và tên bố: Phan Thanh T1, sinh năm 1979. Họ tên mẹ: Hà Thị L, sinh năm 1984.
- Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
- Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo không bị tạm giam, giữ. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương. (Có mặt)
- Người bị hại: Chị Hoàng Thị L1, sinh năm 2005. (Đã chết)
- Người đại diện của bị hại: Anh Hoàng Gia L2, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn G, xã K, huyện K, TP Hải Phòng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Duy N, sinh năm 1996. HKTT: Xóm K, xã K, huyện Đ, Thái Nguyên. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1978, Nơi cư trú: Tổ C, phường X, TP B, tỉnh Bắc Kan. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 42 phút ngày 02/12/2023, Phan Thanh T (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô BKS 20AD-026.06 bằng một tay, phía sau chở bạn gái là Hoàng Thị L1, sinh năm 2005, HKTT: Thôn G, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng (hiện là sinh viên năm I đại học Y Dược T) đi trên đường Q (cũ) hướng Bắc Kạn- Hà Nội với tốc độ khoảng 40-45Km/h, khi đến đoạn đường Km 100+600 thuộc xóm G, xã Y, huyện P, Thái Nguyên. Tại thời điểm này xe ô tô tải BKS 97C-03121 do anh Nguyễn Duy N, sinh năm 1996, HKTT: xóm K, xã K, huyện Đ, Thái Nguyên điều khiển đi phía sau cùng chiều với xe mô tô của T, anh N điều khiển xe ô tô bật xinh nhan bên trái xin vượt, T điều khiển xe mô tô đi sát cách lề đường phải khoảng 20-30cm để cho xe ô tô vượt. Anh N điều khiển xe ô tô vượt xe mô tô của T. Khi xe ô tô của anh N vượt xe mô tô, thì phía bên phần đường ngược chiều có xe ô tô khách BKS 20B-2354 do anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1978, HKTT: Tổ C, phường X, thành phố B đi đến, lúc này T vẫn điều khiển xe mô tô đi bằng mỗi tay phải, quan sát thấy thế, T liền điều khiển xe mô tô đi vào lề đường đất bên phải, lề đất bị xung yếu xe mô tô của T bị trơn trượt đổ về bên trái theo chiều đi va chạm vào sườn bên phải của xe ô tô tải BKS 97C-03121 do anh Nguyễn Duy N điều khiển đi hướng cùng chiều. Hậu quả chị L1 bị thương nặng được đưa đến bệnh viện T5 cấp cứu, đến 17 giờ cùng ngày thì tử vong.
Khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường trải nhựa thẳng, mặt đường phẳng có chiều rộng 6,4m; giữa mặt đường nhựa có vạch sơn kẻ màu vàng, dạng đứt quãng chia đường thành hai chiều xe chạy. Tiếp giáp phía ngoài hai bên mép đường là lề đất cỏ rộng trung bình 0,7m. Tại lề đất phía bên phải theo hướng Cao Bằng -Hà Nội có hàng rào tôn lượn sóng.
Lấy cột mốc km 100+600 bên phải đường nhựa hướng Hà Nội - Cao Bằng làm điểm mốc cố định. Lấy mép đường nhựa bên phải hướng Cao Bằng-Hà Nội làm điểm đo vuông góc để xác định vị trí phương tiện, dấu vết để lại hiện trường vụ tai nạn giao thông.
Ký hiệu (1) là vết lốp xe mô tô hằn trên lề đất bên phải đường theo hướng Cao Bằng- Hà Nội có kích thước (4,5 x 0,09)m chiều hướng Cao Bằng-Hà Nội. Điểm đầu vết này trùng với mép đường nhựa. Đo vuông góc từ điểm đầu vết (1) về phía Cao Bằng đến cột mốc km 100+600 là 5,9m.
Ký hiệu (2) là vết mài trượt đất do bánh lốp xe mô tô tạo nên có kích thước (3,4 x 0,09)m, chiều hướng Cao Bằng-Hà Nội. Điểm đầu vết này nối tiếp với điểm cuối vết (1).
- Ký hiệu (3) là vết cà xước mặt đường, KT (0,8 x 0,01)m có màu trắng, dạng liền, chiều hướng Cao Bằng-Hà Nội chếch ra lề đường bên phải. Đo vuông góc từ điểm đầu vết này ra mép đường chuẩn là 0,2m. Điểm cuối vết này trùng với mép đường nhựa. Đo vuông góc từ điểm đầu vết (1) đến điểm đầu vết (3) là 5,9m.
- Ký hiệu (4) là vết cà xước mặt đường, KT (1,6 x 0,01)m có màu trắng, dạng liền, chiều hướng Cao Bằng-Hà Nội. Đo vuông góc từ điểm đầu, điểm cuối vết này ra mép đường chuẩn lần lượt là 0,5m và 0,5m. Đo vuông góc từ điểm đầu vết (3) đến điểm đầu vết (4) là 1,6m. Đo vuông góc từ điểm đầu vết này về phía Cao Bằng đến điểm đầu vết (4) là 1,6m.
- Ký hiệu (5) là xe mô tô BKS: 20AD – 026.06, xe dựng tại lề đất bên phải theo hướng Cao Bằng-Hà Nội, đầu xe quay hướng Hà Nội, đuôi xe quay hướng Cao Bằng. Đo vuông góc tâm trục bánh trước, bánh sau của xe mô tô này ra mép đường chuẩn lần lượt là 0,5m và 0,5m. Tâm trục bánh sau xe mô tô này đối diện với điểm cuối vết mài trượt đất ký hiệu (2).
- Ký hiệu (6) là vết mài trượt mặt đường, KT (1,3 x 0,22)m có màu đen, dạng liền, chiều hướng Cao Bằng - Hà Nội. Đo vuông góc từ điểm đầu, điểm cuối vết này ra mép đường chuẩn lần lượt là 1,8m và 1,7m.
- Ký hiệu (7) là vùng tổ chức mỡ và máu (dạng mỡ và máu người) trên mặt đường nhựa có KT (2,5 x 1,7)m có hình dạng chữ “L”. Đo vuông góc từ tâm vùng này ra mép đường chuẩn là 1,0m. Đo vuông góc từ tâm vùng này về phía Cao Bằng đến tâm trục bánh trước của xe mô tô BKS: 20AD – 026.06 ký hiệu (5) là 2,1m.
- Ký hiệu (8) là xe ô tô tải BKS: 97C – 031.21 đỗ trên mặt đường nhựa, đầu xe quay hướng Hà Nội, đuôi xe quay hướng Cao Bằng. Đo vuông góc từ mặt ngoài má lốp bánh trước bên phải và mặt ngoài má lốp bánh sau cùng bên phải của xe ô tô này ra mép đường chuẩn lần lượt là 0,6m và 0,9m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh sau cùng phía ngoài bên phải của xe ô tô tải về hướng Cao Bằng tới điểm cuối của vết mài trượt ký hiệu (6) là 14m.
Khám nghiệm tử thi chị Hoàng Thị L1: Vùng thắt lưng bên phải có vết bầm tím KT (15,5x7)cm; Bầm tím, sây sát da toàn bộ vùng mông phải; Từ vùng thắt lưng trái, vùng cùng cụt, vùng mông trái và toàn bộ đùi trái bị dập nát, rách lóc da cơ; Hậu môn có tạng trong ổ bụng thoát ra; Mu bàn tay trái bị sây sát da toàn bộ; Khuỷu tay trái có vết bầm tím KT (9x3)cm; Cổ chân và mu bàn chân trái bị sây sát da rải rác.
Mổ tử thi: Tụ máu mặt sau xương ức. Gãy cung trước xương sườn số 3, 4, 5 bên trái; Các tạng trong ổ bụng bị thoát qua đường vỡ cơ hoành lên khoang ngực (dạ dày thoát vào khoang ngực trái, gan thoát vào khoang ngực phải); Hai phổi xẹp và bị co nhỏ. Dập tim, phổi; Vỡ cơ hoành. Trong ổ bụng có nhiều máu không đông; Dập nát toàn bộ các tạng trong vùng tiều khung; Tử cung nhỏ, trong buồng tử cung không có thai nhi; Dập nát động tĩnh mạch đùi bên trái.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 06/KLGĐTT-KTHS ngày 15/12/2023, của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Hoàng Thị L1, bị đa chấn thương: chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương sườn, dập tim phổi; chấn thương bụng kín, vỡ cơ hoành, thoát tạng trong ổ bụng lên khoang ngực; dập nát da cơ vùng thắt lưng và đùi trái; dập nát các tạng vùng tiểu khung, dập nát động tĩnh mạch đùi trái gây sốc đa chấn thương không hồi phục dẫn đến chết.
Khám phương tiện liên quan vụ tai nạn giao thông:
- - Xe ô tô tải BKS: 97C-031.21
- + Về giấy tờ xe: Đầy đủ.
- + Các dấu vết trên phương tiện: Tại mặt ngoài của thanh kim loại phía dưới bảo vệ bình dầu bên phải có vùng mài trượt mất bụi KT (95x7,5)cm, chiều hướng từ trước về sau. Tâm vùng này cách mặt đất là 41cm. Đo từ điểm đầu vết này đến đầu xe ô tô là 5,5m và đến đuôi xe ô tô là 8,1m. Tại mặt ngoài má lốp bao gồm cả phần mặt lăn tiếp xúc với mặt đường của bánh lốp thứ 4 bên phải tính từ đầu xe ô tô đến đuôi xe ô tô phát hiện còn bám dính tổ chức mỡ, thịt (dạng mỡ, thịt cơ thể người). Vùng này có KT (35x30)cm. Đo từ tâm vùng này đến vị trí chân van theo chiều kim đồng hồ là 54cm. - Xe mô tô BKS: 20AD-026.06.
- - Xe mô tô BKS: 20AD-026.06.
- + Về giấy tờ xe: Đầy đủ.
- + Các dấu vết trên phương tiện: Xe không có gương chiếu hậu hai bên; Tại vị trí đầu núm tay phanh kim loại bên trái có vết mài trượt kim loại KT (0,7x1,2)cm, cách mặt đất 93cm; Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ thân xe bên trái, ở phía dưới yên xe vị trí có dòng chữ “VISION” có vùng mài trượt bám dính vật chất màu trắng KT (46x10)cm, chiều hướng từ trước về sau. Đo từ tâm vùng này đến mặt đất là 63cm; Mặt ngoài điểm đầu chân chống giữa ở bên trái có vết mài trượt KT (1,5x1,5)cm. Đo từ vết này đến mặt đất là 19cm; Mặt ngoài yếm xe bên trái, vị trí tiếp giáp với đèn chiếu sáng phía trước bên trái có vết mài trượt KT (3,7x0,4)cm. Đo từ vết này đến mặt đất là 71cm.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện P, kết luận: Xe ô tô tải BKS: 97C-031.21: Không thiệt hại về tài sản. Giá trị thiệt hại tài sản của xe mô tô BKS: 20AD-026.06 là: 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng).
Trách nhiệm dân sự trong vụ án, quá trình giải quyết bị cáo và đại diện người bị hại đã thỏa thuận, bồi thường xong thiệt hại với số tiền 150.000.000 đồng, đại diện bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm nhình sự cho bị cáo.
Tại Cơ quan điều tra Phan Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên, lời khai của bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; Biên bản mở, đọc video vụ tai nạn giao thông đường bộ; Biên bản khám phương tiện tai nạn giao thông; Bản kết luận giám định tử thi; Lời khai người làm chứng.
Về phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông: Chiếc xe mô tô BKS 20AD-026.06 và xe ô tô BKS 97C-031.21. Sau khám nghiệm, định giá Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại phương tiên trên cho chủ sở hữu sửa chữa, quản lý sử dụng.
Hiện 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Thanh T đã trả lại cho bị can để sử dụng. Đối với 03 bì niêm phong ký hiệu A1,A2 và A3, bên trong mỗi bì có 01 đĩa CD-R lưu giữ 03 đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan vụ tai nạn giao thông được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Do có hành vi trên, bản cáo trạng số 26/CT-VKSP ngày 20 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phan Thanh T, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thanh T, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Đề nghị áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Thanh T, mức án từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự:
Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả của bị cáo đối với người bị hại số tiền 150.000.000₫.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận: Bị cáo không tranh tụng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo xác định quá trình điều tra không bị ép cung, nhục hình, được nhận bản cáo trạng, đã đọc kỹ và nghe công bố tại phiên tòa, không thắc mắc về nội dung bản cáo trạng. Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Phù hợp với lời khai của người làm chứng, đại diện bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi và bản kết luận giám định, Biên bản mở đọc video vụ tai nạn giao thông cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ để xác định: Hồi 10 giờ 42 phút ngày 02/12/2023, Phan Thanh T (có giấy phép lái xe môtô hạng A1) điều khiển xe mô tô BKS: 20AD-026.06 bằng mỗi tay phải, phía sau chở bán gái chị Hoàng Thị L1 đi theo đường Q (cũ) hướng Cao Bằng - Hà Nội. Khi đi đến Km 100+600m, đoạn thuộc địa phận xóm G, xã Y, huyện P, do T điều khiển xe mô tô bằng một tay, đi vào lề đường đất dẫn đến xe mô tô bị trơn trượt, T không làm chủ được tay lái, xe mô tô tự đổ về bên trái, chị L1 bị ngã về bên trái rồi va vào sườn bên phải của xe ô tô tải BKS: 97C – 031.21 do anh Nguyễn Duy N, điều khiển đi hướng cùng chiều. Hậu quả làm Lê bị tử vong. Xe mô tô bị hư hỏng, thiệt hại 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
Hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thống của Phan Thanh T gây tai nạn đã vi phạm Khoản 23 Điều 8 và điểm e khoản 3 Điều 30 Luật giao thông đường bộ.
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm.
“1....
23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.”
Điều 30. Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy.
“1...
3. Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy không được thực hiện các hành vi sau đây:
e) Hành vi khác gây mất trật tự, an toàn giao thông.”
Do đó hành vi của Phan Thanh T đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nhưng đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự mà điều luật quy định.
Xét các yếu tố về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và được gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do vậy bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[4] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo phạm tội do không tuân thủ các quy định của luật giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn xảy ra và gây thiệt hại về tính mạng cho người khác, quá trình gây thiệt hại bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả và được gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do bị cáo có nhân tốt chưa có tiền án tiền sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần phải cách ly bị cáo, mà cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000đ và đại diện người bị hại không yêu cầu gì thêm, nên cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả của bị cáo.
[6] Vật chứng của vụ án: Không có.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
1.Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh T - phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh T 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả của bị cáo đối với người bị hại số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết đối với người vắng mặt./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hồng Nam |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 10 giờ 42 phút ngày 02/12/2023, Phan Thanh T (có giấy phép lái xe môtô hạng A1) điều khiển xe mô tô BKS: 20AD-026.06 bằng mỗi tay phải, phía sau chở bán gái chị Hoàng Thị L1 đi theo đường Q (cũ) hướng Cao Bằng - Hà Nội. Khi đi đến Km 100+600m, đoạn thuộc địa phận xóm G, xã Y, huyện P, do T điều khiển xe mô tô bằng một tay, đi vào lề đường đất dẫn đến xe mô tô bị trơn trượt, T không làm chủ được tay lái, xe mô tô tự đổ về bên trái, chị L1 bị ngã về bên trái rồi va vào sườn bên phải của xe ô tô tải BKS: 97C – 031.21 do anh Nguyễn Duy N, điều khiển đi hướng cùng chiều. Hậu quả làm Lê bị tử vong. Xe mô tô bị hư hỏng, thiệt hại 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
