Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 19-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Thu Hằng

2. Ông Lê Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Lệ Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Thành - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLHS-ST, ngày 24 tháng 06 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân T (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 30/9/1983; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn N, sinh năm 1947 (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1952. Trú tại: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1988; Con: Có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010; con nhỏ nhất sinh năm 2022). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. (Có mặt tại phiên toà).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Bùi Thị H, sinh năm 1988; (Có mặt)

Trú tại: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

* Người làm chứng:

Bà Ma Thị Y, sinh năm 1968; (Vắng mặt)

Trú tại: Xóm R, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

* Người chứng kiến:

- Ông Đoàn Ngọc Y1, sinh năm 1974; (Vắng mặt)

Trú tại: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 12/4/2024, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã K, huyện Đ làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn xóm A, xã K phát hiện Nguyễn Xuân T đang đứng cạnh xe ô tô có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác đã tiếp cận để kiểm tra, T chấp hành và tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên phải mình đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 02 gói nhỏ (01 gói được gói bằng túi nilon màu xanh bên trong là giấy bạc màu vàng gói 02 viên nén màu hồng và 01 gói được gói bằng túi nilon màu xanh bên trong là giấy bạc màu vàng gói 01 viên nén màu hồng) giao nộp và khai nhận đó là ma tuý tổng hợp. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ, niêm phong 03 viên nén màu hồng trên. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, BKS: 20A - 365.91.

Hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân T, kết quả: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tiến hành cân xác định khối lượng số viên nén màu hồng thu giữ của T là 0,284 gam (Lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T khai nhận: Bản thân sử dụng ma tuý tổng hợp từ năm 2023. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/4/2024, T một mình điều khiển xe ô tô BKS: 20A - 365.91 từ nhà đến Trung tâm y tế huyện Đ để uống thuốc Methadone. Sau khi uống thuốc xong, T quay về đến cổng Trung tâm y tế thì gặp 01 người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) và hỏi mua được của người đàn ông này 03 viên ma tuý màu hồng (trong đó: 02 viên được gói trong túi nilon màu xanh, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng và 01 viên được gói trong túi nilon màu xanh, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng) với giá 200.000 đồng. Mua được ma tuý, T cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải mình đang mặc rồi điều khiến xe ô tô ra về. Khi về đến khu vực thuộc xóm A, xã K, T dừng xe để vào nhà người quen thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng vụ án gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, BKS: 20A - 365.91. Ngày 23/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng; 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 và LK. Hiện đang được bảo quản theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKSĐH ngày 24/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Xác định tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo thể hiện qua bản cáo trạng và đề nghị mức hình phạt như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” .

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, không nhằm mục đích mua bán, không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, LK.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trong lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và bị truy tố, xét xử là không oan, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên,Viện kiểm sát huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 12 giờ ngày 12/4/2024, tại khu vực thuộc xóm A, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Nguyễn Xuân T đang có hành vi tàng trữ 03 viên ma tuý màu hồng (trong đó: 02 viên được gói trong túi nilon màu xanh, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng và 01 viên được gói trong túi nilon màu xanh, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng) trong túi quần phía trước bên phải đang mặc mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng. Tiến hành cân xác định khối lượng số viên nén màu hồng thu giữ của T là 0,284 gam (niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định).

Tại bản Kết luận giám định số 530/KL-KTHS ngày 20/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Các viên nén màu hồng trong phong bì A1 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,284 gam.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c. ... Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”...

Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra theo điều luật nói trên.

[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, hành vi đó của bị cáo gây ảnh hưởng xấu, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, là nguyên nhân phát sinh của những loại tội phạm khác. Do vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định thì mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bố mẹ đẻ bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện, không nhằm mục đích mua bán kiếm lời, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

[6] Vật chứng của vụ án: Áp dụng 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Vật chứng 02 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, LK đây là số ma tuý còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, BKS: 20A - 365.91 bị cáo sử dụng khi bị bắt quả tang và tạm giữ quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là phương tiện phục vụ gia đình, khi đó bị cáo chưa nghiện ma tuý nên chị H cho bị cáo đứng tên đăng ký theo quy định. Tuy nhiên, ngày 12/04/2024 bị cáo sử dụng chiếc xe này mục đích đến Trung tâm y tế huyện Đ để uống thuốc Methadone rồi đi mua lưới. Sau khi uống thuốc xong, bị cáo đi bộ về đến cổng Trung tâm y tế thì mới nảy sinh mua ma tuý và chị không biết chồng sử dụng vào hành vi phạm tội nên chị có đơn xin lại chiếc xe. Ngày 23/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Bùi Thị H vợ bị cáo quản lý, sử dụng là phù hợp. Tại phiên toà Chị H không có yêu cầu gì.

[7] Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Đ nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa ngày hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/04/2024.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyện vẹn ký hiệu A1 và 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn ký hiệu LK.

(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao vật chứng ngày 28/06/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ).

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh và huyện Đồng Hỷ;
  • - Công an huyện Đồng Hỷ;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - UBND xã Khe Mo;
  • - Bị cáo.
  • - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quang Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân Thịnh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Thịnh 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/04/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger