|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 16/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Văn Lên
2. Ông Ngô Quang Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Hoàng Thái Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 16 tháng 8 năm 2001 tại thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; Nơi thường trú: ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1982; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ: không; bị tạm giam ngày 17/02/2023 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Đào Trọng H, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2003 tại xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi thường trú: đội 8, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Trọng H1, sinh năm 1972 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1972; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 08/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/5/2023, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2023/HS-ST, đối với hành vi thực hiện ngày 22/5/2023 (hiện đang chấp hành hình phạt tù của bản án này và được trích xuất về trại Tạm giam Công an tỉnh K để xét xử - Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2020, Nguyễn Thành Đ qua Campuchia làm việc cho Công ty G (game đánh bạc qua mạng) do ông Q người Trung Quốc làm Giám đốc, có trụ sở tại Tòa nhà số A, khu K, KampongSom, S, Campuchia. Trong quá trình làm việc tại công ty, Nguyễn Thành Đ và Đào Trọng H đã nhiều lần cùng với người có tên A B và B1 (quản lý công ty, không rõ thông tin) tổ chức đưa người từ Việt Nam trốn sang Campuchia làm việc trong công ty G, cụ thể như sau:
- Đầu tháng 5/2022, Công ty giao cho Đ mở App game mới và giao làm quản lý. Do quen biết qua mạng xã hội, Đ liên hệ với Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1990, trú tại: Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) để tìm người làm logo quảng cáo cho app game. H2 liên hệ với Đào Trọng H để làm logo nêu trên cho Đ nhưng H làm không đạt yêu cầu. Lúc này, Đ cho H2 biết đang làm quản lý app game, còn thiếu nhân viên, nhờ H2 tìm người giới thiệu cho Đ đưa qua Campuchia làm việc, đồng thời nói rõ việc làm trong công ty là sử dụng máy vi tính lên mạng mời khách chơi game, nếu biết sử dụng máy vi tính thì lương 800USD đến 1000USD/tháng, công ty L1 chi phí đi và ăn ở, H2 đồng ý và giới thiệu H cho Đ. Sau đó, Đ liên hệ hỏi H thì biết H không có hộ chiếu, chỉ có căn cước công dân. Lúc này, Đ báo cáo tình hình của H cho ông Q1 biết, ông Q đồng ý cho H qua Campuchia làm và yêu cầu Đ liên hệ với người có tên A B để tổ chức cho H qua Campuchia. Ngày 12/5/2022, Đ mua vé máy bay cho H vào Thành phố Hồ Chí Minh theo yêu cầu của A B. Khi đến Thành phố Hồ Chí Minh thì H điện thoại cho Đ biết, Đ thông báo cho A B rồi A B liên hệ người đón H từ Thành phố Hồ Chí Minh đưa đi tỉnh Bình Phước và đưa qua Campuchia bằng đường tiểu ngạch và đến làm cùng với Đ tại công ty G của Q.
- Trong thời gian từ 21/5/2022 đến 15/6/2022, Phạm Ngọc T2, Nguyễn Tiến T3 và Đào Trọng P (cùng trú thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) liên hệ với Đào Trọng H trao đổi việc làm tại Campuchia. H cho biết công việc làm là sử dụng vi tính mời khách chơi game, lương khoảng 800USD/tháng, chi phí ăn ở công ty L1. Lúc này T2, T3 và P nhờ H giúp đưa qua Campuchia làm chung và cho biết là họ không có hộ chiếu, H nhận lời và nói rõ sẽ đi qua Campuchia bằng đường tiểu ngạch. Do không biết tiếng Trung Quốc, nên H nhờ Đ dẫn H đến gặp ông Q1 xin cho T3, T2 và P qua Campuchia làm, ông Q đồng ý nhận T3, T2 và P vào công ty làm. Lúc này, Đ yêu cầu H cung cấp thông tin cá nhân (chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân, số điện thoại) của T3, T2 và P cho Đ và yêu cầu H mua vé máy bay cho T3, T2 và P đi vào thành phố Hồ Chí Minh rồi cho Đ biết để thông báo cho A B tổ chức đón đưa qua Campuchia bằng đường tiểu ngạch, H đồng ý. Ngày 21/5/2022, H nhờ Nguyễn Thị Hương L (trú thôn N, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội) đặt 03 vé máy bay cho T2, T3 và P bay vào Thành phố Hồ Chí Minh, lần lượt khởi hành vào ngày 21/5/2022
(T2); ngày 24/5/ 2022 (T3) và ngày 15/6/2022 (P). Khi đến nơi, T2 thông báo cho H để thông báo cho Đ biết, rồi Đ điện thoại cho A B để bố trí người của A B lần lượt đến rước T2, T3 và P tại sân bay T đưa đến khu vực biên giới tỉnh Tây Ninh và đưa qua Campuchia bằng đường mòn, lối mở, sau đó đến làm cùng Đ và H tại công ty của ông Q vào 03 thời điểm khác nhau.
- Khoảng cuối tháng 7/2022, Nguyễn Đức H3 (trú tại Đội 9, thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) hỏi thăm Đào Trọng P việc làm tại Campuchia và rủ Nguyễn Tiến Đ1 (trú tại: Xã H, huyện H, tỉnh Nam Định) sang Campuchia bằng đường tiểu ngạch làm việc chung với P cho công ty G tại Campuchia, lương khoảng 800USD/tháng, công ty L1 chi phí ăn ở, Đ1 đồng ý. H3 nhờ P giúp đi qua Campuchia làm cùng P, P đồng ý và yêu cầu H3, Đ1 gửi số điện thoại và căn cước công dân cho P. Phát liên hệ nhờ Đ bố trí người đưa H3, Đ1 qua Campuchia, Đ đồng ý và P gửi thông tin H3, Đ1 cho Đ. Lúc này, P nhờ Đào Trọng H đặt 02 vé máy bay cho H3, Đ1 vào Thành phố Hồ Chí Minh khởi hành cùng ngày 22/7/2022. Khi đến nơi, H3 thông báo P, P thông báo cho Đ và Đ liên hệ với người có tên B1 (không rõ họ tên) tổ chức người đón H3 và Đ1 tại Thành phố Hồ Chí Minh đi lên biên giới rồi đưa qua Campuchia, được xe ô tô đưa thẳng đến công ty làm cùng P và H.
Đến ngày 23/9/2022, Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế H5, tỉnh Kiên Giang tiếp nhận 226 công dân Việt Nam do cơ quan chức năng Campuchia giải cứu, trao trả về Việt Nam, trong đó có những người do Đ và H tổ chức cho họ trốn đi.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật gồm:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus số máy MQ8VALL/A đã bị nứt vỡ màn hình, mặt sau bị vỡ mất một phần, có số IMEI 359500080503457, đã qua sử dụng.
- 01 (một) hộ chiếu của Nguyễn Thành Đ.
* Kết luận giám định:
Ngày 27/01/2023, Phòng K - Công an tỉnh K có kết luận giám định: Trích xuất dữ liệu trong điện thoại hiệu Iphone màu hồng (Iphone 8 Plus, số máy MQ8V2LL/A) đã bị nứt vỡ màn hình, mặt sau bị vỡ mất một phần, có số IMEL 35950008053457, chi tiết thể hiện trong 6,64GB.
* Xử lý vật chứng đã thu giữ trong vụ án:
Ngày 02/11/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh K ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại 01(một) hộ chiếu cho Nguyễn Thành Đ để sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số: 42/CT - VKS-P1, ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Thành Đ và Đào Trọng H về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép” quy định tại b, c khoản 2 Điều 349 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến:
- Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo;
- Đề nghị áp dụng b, c khoản 2 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 5 đến 6 năm tù.
- Đề nghị áp dụng b, c khoản 2 Điều 349; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Trọng H từ 3 đến 4 năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 1 năm 06 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2023/HS-ST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo H chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định.
- Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, số máy MQ8VALL/A đã bị nứt vỡ màn hình, mặt sau bị vỡ mất một phần, có số IMEI 359500080503457, đã qua sử dụng.
* Bị cáo Nguyễn Thành Đ, Đào Trọng H có ý kiến thừa nhận bản thân đã thực hiện hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép như truy tố của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành Đ, Đào Trọng H khai nhận bản thân đã thực hiện hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép như truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể: Trong thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 7/2022, Nguyễn Thành Đ được giao quản lý app game đánh bạc online do ông Q người Trung Quốc làm Giám đốc, có trụ sở tại Tòa nhà số A, khu K, KampongSom, S, Campuchia. Trong quá trình làm việc, Nguyễn Thành Đ đã thông qua ông Q, A B, B1 tổ chức cho Đào Trọng H trốn sang Campuchia trái phép để làm việc trong công ty G. Sau đó, Nguyễn Thành Đ tiếp tục cùng với Đào Trọng H nhiều lần tổ chức cho Phạm Ngọc T2, Nguyễn Tiến T3, Đào Trọng P, Nguyễn Đức H3 và Nguyễn Tiến Đ1 trốn sang Campuchia trái phép để làm việc trong công ty G. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các liệu chứng cứ có trong hồ sơ như lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai người làm chứng; kết luận giám định.... Từ đó có đủ cơ sở để kết luận hành vi các bị cáo thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép” quy định tại b, c khoản 2 Điều 349 Bộ luật hình sự.
[3] Xét vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Thành Đ là người giữ vai trò chính, tổ chức cho Đào Trọng H trốn sang Campuchia trái phép, sau đó tiếp tục cấu kết với Đào Trọng H nhiều lần tổ chức cho 5 người khác trốn sang Campuchia trái phép; bị cáo Đào Trọng H đồng phạm với vai trò người thực hành giúp sức tích cực cho bị cáo Đ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý về dân cư, xuất nhập cảnh của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên phải bị xử lý theo quy định.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Riêng về nhân thân bị cáo H, ngày 08/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2023/HS-ST, đối với hành vi thực hiện ngày 22/5/2023.
Tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện có sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo H chủ động tố cáo hành vi của bị cáo Đ đến cơ quan điều tra và cung cấp nhiều thông tin có liên quan, giúp cơ quan điều tra phát hiện hành vi phạm tội của bị cáo Đ và xử lý được vụ án này, nên bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Đ có người thân (ông nội cố Nguyễn Văn T4) là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, quyết định xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tù tương xứng vai trò, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo, để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.
[5] Về xử lý vậy chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, Hội đồng xét xử sẽ quyết định xử lý các vật chứng liên quan đến vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu trên.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về các nội dung có liên quan khác:
Đối với Đào Trọng P người trực tiếp giới thiệu Nguyễn Tiến Đ1, Nguyễn Đức H3 cho H để Đ tổ chức đưa qua Campuchia trái phép, qua thẩm tra xác minh thì P không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh K chưa thể triệu tập để làm rõ những nội dung có liên quan, đề nghị tiếp tục thẩm tra, xác minh, xử lý sau.
Đối với người có tên Q, A B và B1 đang làm việc tại Campuchia, không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để triệu tập làm rõ những nội dung có liên quan.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ và Đào Trọng H phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép”.
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 17/02/2023).
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 349; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đào Trọng H 02 (hai) năm tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 1 năm 06 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2023/HS-ST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Đào Trọng H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 23/5/2023).
- Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, số máy MQ8VALL/A đã bị nứt vỡ màn hình, mặt sau bị vỡ mất một phần, có số IMEI 359500080503457 (đã qua sử dụng), đã tắt nguồn. Được quản lý trong 01 gói niêm phong màu trắng, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Thái Minh H4, đóng dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh K.
(Hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/11/2023).
- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Mỗi bị cáo Nguyễn Thành Đ, Đào Trọng H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Lịnh |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Đạt cùng đồng phạm tổ chức cho người khác trốn đí nước ngoài
