|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 10-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Châu.
Ông Đoàn Văn Nhanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo: Cao Hoan X; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990; Nơi sinh: Long An; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12.; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Hoàng L, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1995 và 01 người con sinh năm 2019. Tiền sự: không; Tiền án: không; Nhân thân: Tại bản án số 123/2009/HSPT ngày 05-08-2009 của Toà án nhân dân tỉnh Long An đã xử phạt Cao Hoan X 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 103/2009/HSST ngày 21-08-2009, Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã xử phạt Cao Hoan X 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt bản án số 123/2009/HSPT ngày 05-08-2009 của Toà án nhân dân tỉnh Long An buộc Cao Hoan X chấp hành hình phạt chung là 05 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 13-4-2014, chưa thi hành khoản nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Tại bản án số 94/2017/HSST ngày 24-8-2017 của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An đã xử phạt Cao Hoan X 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 03-02-2018 và chấp hành án phí hình sự sơ thẩm ngày 10-8-2018, đã xoá án tích.
Bị cáo X bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An từ ngày 19-10-2023 đến nay,
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1 Công ty cho thuê tài chính TNHHMTV Quốc tế C - Địa chỉ: Tầng B, Sài Gòn T, C T, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
2.2. Công ty TNHH D - Trụ sở: 143A, đường U, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng N - Sinh năm 1992 - Địa chỉ: Khu phố F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt)
2.3. Ông Nguyễn Trọng N - Sinh năm 1992 - Địa chỉ: Khu phố F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13-10-2023, sau khi Cao Hoan X đến khu vực bãi xe Ú (tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An) xin việc làm nhưng không được nhận thì có 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi nói với X “ở đây có thuê chở thuốc lá, nếu dám chở thì 02 ngày nữa quay lại phía trước khu vực bãi xe để nhận xe chạy”. X đồng ý. Đến khoảng 19 giờ ngày 15-10-2023, X đến một quán nước trước bãi xe, gặp lại người đàn ông trước đó. Người đàn ông giao cho X 01 xe ô tô nhãn hiệu MG, màu trắng, gắn biển số 62LD-020.26. Trên xe có sẵn 01 điện thoại và hàng ghế phía sau đã được gở bỏ. Giao xe xong, người này kêu X điều khiển xe về nhà, khi nào có người gọi thì chạy xe lên khu vực chợ T1 (ấp D, xã M), sẽ có người hướng dẫn chạy vào nơi nhận thuốc lá điếu nhập lậu để chuyển đến thành phố Hồ Chí Minh. Đi đến đâu thì sẽ tiếp tục chỉ dẫn đến đó, mỗi chuyến vận chuyển không quá 5.000 bao thuốc lá, tiền công là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) mỗi chuyến. X chạy xe về nhà. Đến 22 giờ ngày 18-10-2023, X nhận được điện thoại từ người đàn ông đã thuê, yêu cầu X đến chợ Tho Mo nhận thuốc lá theo sự hướng dẫn. X chạy xe ô tô qua chợ Tho Mo thì rẽ phải, chạy tiếp một đoạn đến quán “Hát với nhau” rồi lại rẽ phải đi vào đường đá xanh, thì gặp 03 người đàn ông điều khiển 03 xe mô tô dẫn đường đến điểm nhận thuốc lá. Khi đến nơi, X thấy có thêm 02 người đàn ông điều khiển xe mô tô khác. Những người này dùng xe mô tô đi đến bãi đất trống chất sẵn thuốc gần đó (cách chỗ đậu xe ô tô khoảng 200 mét) rồi chở và chất thuốc lá lên xe lên xe ô tô. Sau khi chất thuốc xong, họ rời đi. X điều khiển xe theo hướng ngược lại để đi thành phố Hồ Chí Minh giao thuốc như thỏa thuận. Đến 23 giờ 50 phút ngày 18-10-2023, khi X điều khiển xe 62LD-020.26 chở thuốc lá đến đoạn đường tỉnh lộ 838 gần cầu bà Vòm, thuộc ấp 2, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang, thu giữ trên xe 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 7.000 bao SCOTT, 1.800 bao JET, 1.200 bao HERO). Tại cơ quan điều tra, X đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tang vật tạm giữ:
- 10.000 (mười nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm 7.000 bao nhãn hiệu SCOTT, 1.800 bao nhãn hiệu JET, 1.200 bao nhãn hiệu HERO, xác định là hàng cấm.
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số [...] cấp ngày 09-09-2019 tên Cao Hoan X.
- 01 (một) ô tô nhãn hiệu MG, số loại ZS 1.5L STD, màu sơn trắng, số máy: 15S4CCTTP1230016; số khung: MMLW74U46PG012865 và 02 biển số xe ô tô 62LD-020.26.
Qua xác minh, xe ô tô nhãn hiệu MG, số loại ZS 1.5L STD biển số xe ô tô 62LD-020.26 là giả mà biển số đăng ký thật là 62LD-020.84, do Công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế Chailease (gọi tắt là công ty Chailease) làm chủ chủ sở hữu. Xe được mua với hình thức liên doanh và được giao cho ông Nguyễn Trọng N quản lý và sử dụng. Từ ngày 15-10-2023 đến ngày 15-12-2023, Nguyễn Trọng N đã cho Nguyễn Văn Dũng, sinh ngày 16-09-1990, nơi thường trú: ấp 3, xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thuê tự lái với số tiền là 800.000 đồng mỗi ngày. Biển số 62LD-020.26 được cấp cho 01 xe khác do Công ty Chailease làm chủ chủ sở hữu và vẫn đang gắn trên xe. Nguyễn Trọng N không biết lý do vì sao vào ngày 18-10-2023, bị cáo X đã dùng xe ô tô 62LD-020.84 được thay biển số giả 62LD-020.26 để làm phương tiện vận chuyển hàng cấm và bị bắt quả tang.
Bị cáo X còn khai nhận ngày 16-10-2023 với phương thức tương tự lần bị bắt quả tang, bị cáo đã vận chuyển thuốc 01 chuyến cho người đàn ông thuê mình và giao thuốc tại ngã tư An Sương (thành phố Hồ Chí Minh) nhưng không biết rõ số lượng thuốc lá cụ thể. Cả hai lần vận chuyển bị cáo đều chưa nhận được tiền công.
Tại cáo trạng số 32/CT-VKSĐH ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Cao Hoan X về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Cao Hoan X khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung cáo trạng truy tố, bị cáo không khiếu nại gì đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, không tranh luận với Kiểm sát viên. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Cao Hoan X về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự. Bổ sung tình tiết tăng nặng đối với bị cáo X vì bị cáo chưa chấp hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại bản án số 123/2009/HSPT ngày 05-08-2009 của Toà án nhân dân tỉnh Long An nên không thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo Điều 70 Bộ luật Hình sự mà phải áp dụng khoản 1 Điều 53 và điểm h khoản 1 Điều 52 để xác định là tình tiết tăng nặng là tái phạm. Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Hoan X phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử: căn điểm b khoản 3 Điều 191, Điều 32, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Hoan X từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bảy) năm tù; Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: tịch thu tiêu hủy 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, 02 biển kiểm soát số 62LD-020.26, trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Huệ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về người tham gia tố tụng: Bị cáo không có ý kiến về việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cho thuê tài chính TNHHMTV Quốc tế Chailease, Công ty TNHH dịch vụ - Thương mại - vận tải và du lịch An Phát, ông Nguyễn Trọng N, Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Xét việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vụ án.
[3]. Về hành vi bị truy tố của bị cáo Cao Hoan X:
[3.1]. Tại phiên tòa, bị cáo Cao Hoan X khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng đã truy tố: Vì muốn có tiền tiêu xài nên ngày 15-10-2023, Cao Hoan X đã nhận lời vận chuyển thuê thuốc lá điếu nhập lậu cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Thỏa thuận là người này giao xe ô tô cho X để đến khu vực chợ Tho Mo ấp 4, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An nhận thuốc, sau đó vận chuyển đến thành phố Hô Chí Minh để giao, mỗi lần vận chuyển xong thì được trả 1.000.000 đồng. Đến 23 giờ 50 phút ngày 18-10-2023, khi X đang điều khiển xe 01 ô tô nhãn hiệu MG, màu trắng, gắn biển kiểm soát 62LD-020.26 do người đàn ông giao để chở 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu đi đến đoạn đường tỉnh lộ 838, gần cầu bà Vòm thuộc ấp 2, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thì bị bắt quả tang người và tang vật gồm 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm 7.000 bao nhãn hiệu SCOTT, 1.800 bao nhãn hiệu JET, 1.200 bao nhãn hiệu HERO; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] cấp ngày 09-09-2019 tên Cao Hoan X; 01 (một) ô tô nhãn hiệu MG, số loại ZS 1.5L STD, màu sơn trắng, số máy: 15S4CCTTP1230016; số khung: MMLW74U46PG012865 và 02 biển số xe ô tô 62LD-020.26.
[3.2]. Lời khai của bị cáo X tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 00 giờ 05 phút ngày 19-10-2023, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận điều tra của Công an huyện Đức Huệ và Cáo trạng số 32/CT-VKSĐH ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vận chuyển hàng cấm" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
[3.3]. Về nội dung bị cáo X khai nhận ngày 16-10-2023 đã vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu 01 chuyến chỉ có lời khai của bị cáo, không thu giữ được vật chứng, không có tài liệu gì khác chứng minh hành vi phạm tội nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm mà xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[3.4]. Như vậy số 32/CT-VKSĐH ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Cao Hoan X về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.5]. Cáo trạng và lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xác định tội danh, áp dụng điều luật, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.6]. Bị cáo Cao Hoan X biết rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách của nhà nước trong quản lý thuốc lá điếu nhập khẩu, gây mất an ninh trật tự tại địa phương mà còn xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Do đó hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
[4.1]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cao Hoan X đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là trường hợp tái phạm quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Vì vậy áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.3]. Về hình phạt bổ sung: theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản nào khác. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Đối với người đàn ông thuê bị cáo X và những người giao nhận thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo X vận chuyển không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[6]. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ không xác định được nhân thân, lai lịch của Nguyễn Văn Dũng là người thuê xe ôtô nhãn hiệu MG, số loại ZS 1.5L STD, màu sơn trắng, số máy: 15S4CCTTP1230016; số khung: MMLW74U46PG012865 nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[7]. Nguyễn Trọng N không biết bị cáo X sử dụng phương tiện trên để thực hiện hành vi phạm tội là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ không xem xét xử lý ông N là phù hợp.
[8]. Về xử lý vật chứng:
[8.1]. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ, đã trả cho ông Nguyễn Trọng N 01 (một) ô tô nhãn hiệu MG, số loại ZS 1.5L STD, màu sơn trắng, số máy 15S4CCTTP1230016 ; số khung: MMLW74U46PG012865 theo Quyết định xử lý vật chứng số 96 ngày 31-01-2024 và biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 01-02-2024 là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.2]. 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm 7.000 bao nhãn hiệu SCOTT, 1.800 bao nhãn hiệu JET, 1.200 bao nhãn hiệu HERO là hàng cấm nên tịch thu tiêu hủy là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
[8.3]. 02 biển kiểm soát 62LD-020.26 là biển kiểm soát giả, không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo đề nghị của Kiểm sát viên là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.4]. Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe là đúng quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Cao Hoan X phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Cao Hoan X phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ vào: Điểm b khoản 3 Điều 191; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Cao Hoan X 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (19-10-2023).
Tiếp tục tạm giam bị cáo Cao Hoan X 45 ngày kể từ ngày tuyên án (10-6-2024) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tịch thu và tiêu hủy: 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm 7.000 bao nhãn hiệu SCOTT, 1.800 bao nhãn hiệu JET, 1.200 bao nhãn hiệu HERO, 02 biển kiểm soát số 62LD-020.26.
Trả lại cho bị cáo Cao Hoan X 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số [...] cấp ngày 09-09-2019 tên Cao Hoan X.
(Tang vật hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 2024/38 ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa Công an huyện Đức Huệ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Cao Hoan X phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Bích Liên |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ, TỈNH LONG AN về hình sự về tội vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Điểm b khoản 3 Điều 191; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Cao Hoan X 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (19-10-2023).
