Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 09/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hà
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Minh Tân và ông Đinh Công Định
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phúc Hương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang V - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh T mở phiên tòa công khai xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 25/4/2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh ngày 27/6/1998.

Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/12; con ông Lê Đình C (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1964; vợ, con: Không có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Tại Bản án số 21/HS-ST ngày 27/4/2017, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 30/01/2017, trị giá tài sản 35.500.000 đồng.
  • Tại Bản án số 67/HS-ST ngày 16/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 01/6/2017, trị giá tài sản 12.800.000 đồng. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù tại bản án số 21/2017/HSST ngày 27/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm tù.
  • Tại Bản án số 29/HS-ST ngày 16/8/2018, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 15/6/2017 và 14/7/2017, trị giá tài sản 30.985.200 đồng. Tổng hợp với hình phạt 03 năm tù của bản án số 67/2017/HSST ngày 16/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, hình phạt chung của hai bản án là 04 năm 6 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

  • Bị hại: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn C, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị L, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 06/01/2024, Lê Văn T, trú tại thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang một mình điều khiển xe đạp mini, nhãn hiệu Kasawa, sơn màu bạc, xe có giỏ để đồ ở phía trước bằng nhựa (xe của mẹ T là bà Trần Thị L, trú cùng địa chỉ) đi từ nhà sang thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, mục đích tìm xe mô tô để trộm cắp.

Khi đến đoạn đường gần khu vực N thuộc thôn T, xã A, thành phố T, T nhìn thấy 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen trắng, biển số 22S1-080.48 của chị Nguyễn Thị T1, trú tại thôn C, xã L, thành phố T và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám (không xác định được biển số) dựng ở ven đường, xung quanh không có người trông coi. Thấy vậy, T để xe đạp cách đó khoảng 10 mét rồi đi bộ đến chiếc xe mô tô Honda Wave S, biển số 22S1- 080.48 kiểm tra, xe mô tô bị khóa cổ, T dùng chân đạp vào tay lái của xe phá khóa cổ, dùng tay giật đứt dây điện tại ổ khóa, sau đó lấy một đoạn dây kim loại (đang buộc tại bó củi ở ven đường) đấu vào dây điện của xe mở khóa điện. Sau khi đấu dây khóa điện xong, T nhấc chiếc xe đạp đặt lên yên xe mô tô, nổ máy, điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được mang đi bán. Trên đường đi, T vào một nhà dân không quen biết, không xác định được địa chỉ cụ thể thuộc huyện Đ, tỉnh Phú Thọ gửi xe đạp rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 22S1- 080.48 đi xuống thành phố Hà Nội.

Khoảng 01 giờ ngày 07/01/2024, T đi đến khu vực gần cầu T, thành phố Hà Nội vào 01 quán internet (T không xác định được tên quán, địa chỉ cụ thể) sử dụng máy vi tính, đăng nhập vào mạng xã hội Facebook, dùng tài khoản có tên “Ân danh” để truy cập vào nhóm Facebook có tên “Hội nhóm mua bán xe không giấy tờ tại thành phố Hà Nội” thấy 01 tài khoản cũng có tên “Ân danh” đăng bài viết với nội dung “Mua xe không giấy tờ”. Trình nhắn tin qua ứng dụng “Messenger” nói chuyện với người sử dụng tài khoản trên để thỏa thuận bán xe thì người này hẹn gặp tại một quán nước tại khu vực Chùa H, thành phố Hà Nội và quy ước khi đến thì nháy đèn xe ba lần người đó sẽ ra gặp T để mua xe.

Sau khi thỏa thuận xong, T hỏi đường rồi điều khiển xe đi đến điểm hẹn (Trình không xác định được địa chỉ cụ thể). Tại đây, T nháy đèn xe 03 lần thì thấy có một người đàn ông (không xác định được tên và địa chỉ) đi từ một quán nước đến chỗ T. Sau đó, T và người đàn ông thỏa thuận mua bán chiếc xe mô tô trộm cắp được với giá 3.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận, T dùng tay giật mở yên xe lên thì nhìn thấy bên trong có 01 chiếc ví màu nâu, trong ví có 01 (một) giấy đăng ký xe, 01 (một) giấy phép lái xe mô tô, 01 (một) căn cước công dân và 01 (một) thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị T1, T cầm chiếc ví trên, giao xe cho người đàn ông và lấy số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bán xong xe, T đón xe khách về thành phố T, trên đường về Trình vứt chiếc ví nêu trên nhưng không xác định được địa điểm vứt chiếc ví. Khi về đến huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, T vào nhà dân trước đó gửi xe đạp, lấy xe đi về nhà. Số tiền bán xe mô tô trộm cắp, T chi tiêu cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang kết luận: Giá trị của 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn trắng đen, biển số 22S1-080.48 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 7.080.000 đồng (Bảy triệu, không trăm tám mươi nghìn đồng).

Vật chứng: Quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng là xe môtô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn trắng đen, biển số 22S1-080.48. Cơ quan điều tra tạm giữ 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Kasawa, loại xe mini màu bạc, xe có giỏ để đồ ở phía trước bằng nhựa, xe cũ đã qua sử dụng.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị T1 không đề nghị dân sự đối với chiếc ví và giấy tờ bị mất, yêu cầu bị cáo Lê Văn T bồi thường số tiền 7.080.000 đồng (Bảy triệu, không trăm tám mươi nghìn đồng) là giá trị chiếc xe mô tô. Bị cáo T nhất trí nhưng chưa bồi thường.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSTP ngày 26 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 17/01/2024.

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà Trần Thị L (mẹ đẻ của bị cáo) 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Kasawa, loại xe mini màu bạc, xe có giỏ để đồ ở phía trước bằng nhựa, xe cũ đã qua sử dụng.

Về phần dân sự, quá trình điều tra, truy tố bị hại chị Nguyễn Thị T1 yêu cầu bị cáo Lê Văn T phải bồi thường số tiền 7.080.000 đồng (Bảy triệu, không trăm tám mươi nghìn đồng) là giá trị chiếc xe mô tô bị mất trộm. Quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục tác động gia đình bồi thường số tiền 4.080.000 đồng cho bị hại. Bị hại chị Nguyễn Thị T1 đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận cho bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả.

Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, tại phiên toà bị cáo xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Bị hại chị Nguyễn Thị T1 có ý kiến: Bị hại nhất trí với nội dung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và đã chủ động bồi thường khắc phục hậu quả nên bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Văn T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại tài sản là chiếc xe đạp Kasawa, loại xe mini màu bạc cho bà để lấy làm phương tiện đi lại hàng ngày.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo Lê Văn T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội. _

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; bản ảnh hiện trường; Biên bản làm việc; lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 06/01/2024, tại thôn T, xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Lê Văn T, trú tại thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn trắng đen, biển số 22S1- 080.48 trị giá 7.080.000 đồng (Bảy triệu, không trăm tám mươi nghìn) của bà Nguyễn Thị T1, trú tại thôn C, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác về tài sản. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại bà Nguyễn Thị T1 số tiền 7.080.000 đồng và bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo trong khi lượng hình.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về mức án mà Viện kiểm sát đề nghị: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân; bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 3 lần bị Toà án xét xử về tội Trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với cùng tính chất, qua đó thể hiện sự coi thường pháp luật, khó cải tạo, giáo dục của bị cáo. Vì vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo; giá trị tài sản bị cáo đã trộm cắp cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[7] Về dân sự: Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục tác động gia đình bồi thường tiếp số tiền 4.080.000 đồng cho bị hại. Bị hại chị Nguyễn Thị T1 đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận cho bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả.

[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Kasawa, loại xe mini màu bạc, xe có giỏ để đồ ở phía trước bằng nhựa, xe cũ đã qua sử dụng. Xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của mẹ đẻ bị cáo, khi bị cáo đi trộm cắp tài sản mẹ bị cáo không biết bị cáo đi đâu, làm gì. Do đó, Hội đồng xét xử trả lại vật chứng là tài sản nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp bà Trần Thị L.

[9] Đối với người đàn ông mua chiếc xe mô tô biển số 22S1-080.48 là tài sản do bị cáo T trộm cắp mà có, quá trình điều tra, cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Đối với bà Trần Thị L (mẹ đẻ của bị cáo) là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe đạp nhưng bà L không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không đề cập xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xém xét.

[10] Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, tại phiên toà bị cáo xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo;

[11] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

    Xử phạt bị cáo Lê Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 17/01/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Lê Văn T đã bồi thường xong cho bị hại Nguyễn Thị T1 số tiền 7.080.000 đồng (Bảy triệu không trăm tám mươi nghìn).
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  5. Trả lại cho bà Trần Thị L: 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Kasawa, loại xe mini màu bạc, xe có giỏ để đồ ở phía trước bằng nhựa, xe cũ đã qua sử dụng (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 29/3/2024).

  6. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  7. Bị cáo Lê Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án đối với nội dung có liên quan đến vụ án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/5/2024)./.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
  • VKS ND tỉnh TQ;
  • Công an tỉnh TQ;
  • VKS ND thành phố;
  • Công an thành phố;
  • Chi cục THADS thành phố;
  • Sở Tư pháp TQ;
  • UBND nơi bị cáo cư trú;
  • Người tham gia tố tụng ;
  • Hồ sơ vụ án hình sự;
  • Thi hành án hình sự;
  • Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Ngọc Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lý Khắc Đồng

Phạm Ngọc Hà

Lý Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger