Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 05-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lam.

Ông Nguyễn Hồng Diện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh Huệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Thế L, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1999 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Tổ G, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; Số CCCD [...], cấp ngày 02/4/2021 tại Cục C về TTXH; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc N, sinh năm 1973 và bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1975; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  2. Nông Văn Q, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2004 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn M, xã Q, huyện B, tỉnh Hà Giang; Số CCCD [...], cấp ngày 04/12/2021 tại Cục C về TTXH; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn L2, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có;

tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Phạm Xuân T1, sinh năm 1989, nơi cư trú: Tổ G, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (có mặt).
  • - Bà Phạm Thị B, sinh năm 1964, nơi cư trú: Tổ G, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (có mặt).

- Người làm chứng: Cháu Nguyễn Minh Q1. Người đại diện hợp pháp của cháu Q1: Anh Nguyễn Văn L3 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 20/02/2024, Phạm Thế L một mình đi đến ngôi mộ của ông Phạm Ngọc S, sinh năm 1964 (là bác ruột của L) tại nghĩa trang T, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang để lấy trái cây, bánh kẹo thắp hương trên phần mộ ăn. Tại đây L thấy phần mộ của ông S đã xuống cấp và nghĩ rằng dưới mộ có tài sản là vàng nên nảy sinh ý định đào mộ ông S để lấy tài sản. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày tại quán điện tử tại tổ I, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang, L gặp Nông Văn QNguyễn Minh Q1, sinh ngày 04/3/2010 nên đã rủ QQ1 đi đào mộ của ông S cùng mình. L nói với QQ1 là dưới mộ ông S có vàng cùng nhau đào lấy chia nhau, do không có tiền tiêu sài nên khi nghe L nói dưới mộ ông S có vàng QQ1 đã đồng ý đi đào mộ ông S cùng với L và hẹn nhau trưa ngày 21/02/2024 sẽ cùng nhau đi đào mộ.

Lần một vào khoảng 12 giờ ngày 21/02/2024 L lấy 01 (một) chiếc xẻng có lưỡi bằng sắt, cán bằng gỗ có chiều dài cả cán là 1,32m, cán xẻng dài 1m, phần rộng nhất của lưỡi là 0,26m ở gần nhà của L (L không biết chiếc xẻng trên của ai) sau đó ở nhà chờ QQ1 đến, được khoảng 15 phút thì có Q1 đến, lúc này LQ1 cùng nhau đi đến ngôi mộ của ông Phạm Ngọc S, ngôi mộ ông S đắp bằng đất, được xếp gạch bi bao xung quanh, ngôi mộ có chiều dài 2,7m, rộng 1,4m, cao vuông góc mặt đất 0,45m, đến nơi L dùng chân đá các que hương cắm ở trên mộ và dùng tay bê các viên gạch xếp xung quanh phần đất của ngôi mộ ông S ra, sau đó L đứng trên ngôi mộ ông S rồi dùng xẻng xúc phần đất ra xung quanh, L đào được 05 phút thì Q1 vào đào thay, cả hai đào được khoảng 10 phút thì đi về và để lại chiếc xẻng rồi hẹn nhau đến trưa hôm sau đào tiếp.

Lần thứ hai vào khoảng 12 giờ ngày 22/02/2024, QQ1 đến nhà L rồi cả ba cùng nhau đi đến ngôi mộ của ông Phạm Ngọc S, tại đây Q đã thấy ngôi mộ ông S bị đào bới. L, Q1 dùng chiếc xẻng để lại trước đó tiếp tục đào mộ ông S, còn Q ngồi tại

bụi tre gần đó để chờ LQ1 khi đào mệt sẽ vào thay và canh gác nếu có người đến sẽ thông báo cho LQ1 biết, khi LQ1 đào được một lúc do mệt và trời nắng nên cả ba đi về và để lại chiếc xẻng trên ngôi mộ để hôm sau đến tiếp tục đào.

Lần thứ ba vào khoảng 22 giờ ngày 25/02/2024 QQ1 đi bộ qua nhà L, L nhìn thấy QQ1 nên đã rủ QQ1 ra mộ ông S để tiếp tục đào mộ, rồi cả ba đi bộ ra nghĩa trang đến ngôi mộ của ông S, L dùng chiếc xẻng để lại trước đó xúc phần đất trên ngôi mộ của ông S ra xung quanh để đào sâu xuống dưới, được một lúc thì Q1 vào đào thay L, sau đó Q vào thay Q1 đào, được khoảng 15 phút do mệt nên cả ba không đào mộ ông S nữa rồi để lại chiếc xẻng trong hố trên ngôi mộ ông S rồi cùng nhau đi về, lúc này L, QQ1 đã đào được một hố đất trên mộ ông S dài 1,4m, rộng 01m, chỗ sâu nhất 0,70m.

Ngày 03/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B ban hành Quyết định trưng cầu giám định trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc giám định pháp y tâm thần nội trú đối với bị can Phạm Thế L4. Ngày 26/4/2024, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc có Kết luận số 51/KLGĐ, kết luận: Tại thời điểm Phạm Thế L4 thực hiện hành vi phạm tội vào các ngày 21/02/2024, 22/02/2024 và ngày 25/02/2024, Phạm Thế L4 không bị bệnh tâm thần, Phạm Thế L4 đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Với chứng cứ và hành vi nêu trên, tại Bản cáo trạng số: 35/CT-VKSBQ ngày 16/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố các bị cáo Phạm Thế L4Nông Văn Q về tội “Xâm phạm mồ mả", theo quy định tại khoản 1 Điều 319 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Thế L4 không thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, bị cáo cho rằng bị cáo đi sửa mộ cho bác bị cáo. Bị cáo Nông Văn Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên và lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phạm Thế L4Nông Văn Q về tội “Xâm phạm mồ mả" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 319, Điều 17, điểm b khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Thế L4, xử phạt bị cáo Phạm Thế L4 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 319, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nông Văn Q, xử phạt bị cáo Nông Văn Q từ 04 (bốn) tháng đến 08

(tám) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, về vật chứng và án phí, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người làm chứng và người đại diện hợp pháp của người làm chứng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phạm Thế L4 không thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, bị cáo Phạm Thế L4 chỉ thừa nhận có hành vi đào mộ với mục đích để sửa sang lại ngôi mộ cho bác mình là ông Phạm Ngọc S. Tuy nhiên bị cáo Nông Văn Q và người làm chứng Nguyễn Minh Q1 khai do bị cáo L4 rủ Q, Q1 đi đào mộ ông S để lấy tài sản, do hám lợi nên đã cùng bị cáo L4 tham gia đào mộ ông S. Bị cáo L4 cho rằng bị cáo cùng Q, Q1 đi sửa mộ cho bác mình là ông Phạm Ngọc S nhưng bị cáo lại có hành vi đứng trên ngôi mộ ông S, dùng chân đá que hương cắm trên mộ, dùng tay bê các viên gạch be chân mộ vứt ra ngoài, dùng xẻng đào đất của ngôi mộ hất ra xung quanh. Mặt khác trong quá trình điều tra và tại phiên toà vợ, con ông Phạm Ngọc S xác nhận việc bị cáo L4 cùng đồng phạm đào mộ của ông Phạm Ngọc S là không có sự đồng ý của họ. HĐXX thấy rằng lời khai nhận tội của bị cáo Nông Văn Q tại phiên toà phù hợp với lời khai nhận tội trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng Nguyễn Minh Q1, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm vấn công khai tại phiên toà, có đủ cơ sở khẳng định vào các ngày 22, ngày 25/02/2024 bị cáo Phạm Thế L4 cùng bị cáo Nông Văn Q đã dùng xẻng đào ngôi mộ ông Phạm Ngọc S, sinh năm 1964 được chôn cất tại nghĩa trang T2, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Ngoài ra bị cáo Phạm Thế L4 còn

thực hiện hành vi đào mộ trên vào ngày 21/02/2024. Phần mộ ông Phạm Ngọc S bị đào có kích thước dài 1,4m, rộng 01m, chỗ sâu nhất 0,70m. Như vậy, có đủ cơ sở để HĐXX kết luận các bị cáo Phạm Thế L4, Nông Văn Q phạm tội Xâm phạm mồ mả theo quy định tại khoản 1 Điều 319 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố các bị cáo về Tội xâm phạm mồ mả theo quy định tại khoản 1 Điều 319 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Điều 319 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định “1. Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Thế L4, Nông Văn Q gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến phong tục, tập quán trong việc chôn cất thi thể, là khách thể được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[6] Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo Phạm Thế L4, Nông Văn Q không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo cùng cố ý thực hiện một tội phạm, nhưng không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau mà chỉ nhất thời phạm tội nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Phạm Thế L4 tham gia với vai trò là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị công cụ và trực tiếp thực hiện tội phạm nên có tính chất, mức độ cao hơn bị cáo Nông Văn Q là người tham gia. Do vậy bị cáo Phạm Thế L4 phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Nông Văn Q. Ngoài ra các bị cáo đều phạm tội nhiều lần, mỗi lần đều đủ mức xử lý hình sự nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm Thế L4 tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và đại diện bên thiệt hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Phạm Thế L4 là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuy nhiên tại phiên toà bị cáo Phạm Thế L4 quanh co chối tội nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Đối với Nguyễn Minh Q1, sinh ngày 04/3/2010 là người cùng Phạm Thế L4, Nông Văn Q tham gia đào mộ ông Phạm Ngọc S tại nghĩa trang T2, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang vào các ngày 21/02/2024, 22/02/2024 và ngày 25/02/2024, tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội sau cùng trước khi bị phát hiện là ngày 25/02/2024, Nguyễn Minh Q1 được 13 tuổi 10 tháng 21 ngày. Căn cứ khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì Nguyễn Minh Q1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 5 và khoản 5 Điều 11 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2020, Công an huyện B, tỉnh Hà Giang không áp dụng hình thức xử lý hành chính đối với Nguyễn Minh Q1 là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[9] Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Phạm Thế L4, xác định L4 dương tính với chất ma túy Cần sa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Phạm Thế L4 là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Thế L4 đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết bồi thường thiệt hại nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[11] Về xử lý vật chứng: Chiếc xẻng thu giữ của bị cáo là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Thế L4, Nông Văn Q phạm tội “Xâm phạm mồ mả".
  2. Hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 319, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Thế L4 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 319, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nông Văn Q 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày đi thi hành án.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc xẻng có lưỡi bằng sắt, cán bằng gỗ, có chiều dài cả cán là 1,32 mét, cán xẻng dài 1 mét, phần rộng nhất của lưỡi là 0,26 mét.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang ngày 21/6/2024.

  1. Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc hội, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Phạm Thế L4, Nông Văn Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - Cơ quan Công an huyện Bắc Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - UBND thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
  • - UBND xã Quang Minh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về xâm phạm mồ mả

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xâm phạm mồ mả
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thế L và Nông Văn Q bị VKS truy tố về tội xâm phạm mồ mả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger