Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-8-2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Tuyệt
  • Ông Hoàng Xuân Tỵ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 73/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số F đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

+ Bị đơn: Anh Ngô Quang T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 19/02/2024 và những lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình làm việc và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thanh T thể hiện như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Ngô Quang T1 có thời gian quen biết và tìm hiểu khoảng gần 01 năm thì tổ chức lễ cưới vào năm 2018. Việc chung sống là tự nguyện, được gia đình hai bên đồng ý. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19/3/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại số A đường T, phường L, thành phố B đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ việc anh T1 ham mê đá gà, cờ bạc, thường lấy tiền lương đi chi tiêu cho bản thân chứ ít khi lo cho vợ con, chị T cũng nhiều lần nhắc nhở nhưng anh T1 không có thay đổi, mỗi lần anh T1 về nhà là kiếm cớ gây sự với chị nên vợ chồng xảy ra cãi nhau. Từ năm 2022 đến năm 2023 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng hơn có lúc anh T1 còn đánh chị, nguyên nhân do chị thường nhắc nhở anh T1 về việc anh T1 chơi bài, đá gà, không lo làm ăn và thường xuyên kiếm cớ gây sự với chị, ngoài ra anh T1 còn nghi ngờ chị mang tiền về cho nhà ngoại vì vậy chị T đã bế con về ngoại ở từ đó đến nay, vợ chồng cũng không có nói chuyện hay có nguyện vọng hàn gắn tình cảm.

Nay tình cảm của chị với anh T1 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T đề nghị được ly hôn với anh T1.

- Về con chung: Chị T và anh Ngô Quang T1 có 01 con chung là Ngô Hoàng Khánh N, sinh ngày 03/01/2019.

Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cháu N do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Hiện nay chị T đang làm công nhận tại Công ty TNHH K, thu nhập bình quân hàng tháng là 7.000.000 đồng.

Nay chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, chị T đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh Trung cấp d nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị T cam kết vợ chồng không vay nợ chung ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại quá trình làm việc và tại phiên tòa bị đơn anh Ngô Quang T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 thừa nhận quá trình tìm hiểu, đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới như chị T trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng có thời gian hạnh phúc khoảng hơn 01 năm. Đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị T thường xuyên bế con về nhà ngoại mấy ngày không thấy về nhà, khi ở nhà thì không lo nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa mà chờ anh về làm. Ngoài ra chị T chi tiêu tiền không có kế hoạch nên vợ chồng xảy ra cãi nhau, có lần trầm trọng vợ chồng còn đánh nhau, đập phá đồ đạc trong nhà. Gia đình hai bên có can thiệp nhưng không được.

Từ cuối năm 2023 đến nay anh và chị T đã sống ly thân, không ai nói chuyện hay hàn gắn tình cảm gì, chị T bế con về nhà ngoại sinh sống, còn anh ở cùng bố đẻ.

Nay chị T yêu cầu ly hôn, do không còn tình cảm gì, không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm nên anh cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.

-Về con chung: Anh T1 và chị T có 01 con chung như chị T trình bày trên là đúng. Nếu ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh đang làm lái xe tải cho Công ty T2 ở Mađaguoi sau khi trừ các chi phí thì thu nhập bình quân của anh từ 13.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng nên đảm bảo điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn anh Ngô Quang T1 giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.

- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T; Căn cứ Điều 58, Điều 81 Luật hôn nhân gia đình đề nghị giao con chung là cháu Ngô Hoàng Khánh N cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng chị T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết, về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết;

- Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Ngô Quang T1 cư trú tại số A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

[3] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Ngô Quang T1 chung sống với nhau từ năm 2018, việc chung sống là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng ngày 19/3/2018. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Qua lời trình bày của các đương sự cũng như qua xác minh từ chính quyền địa phương thì Hội đồng xét xử xét thấy quá trình làm việc cả chị T và anh T1 đều thừa nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống từ năm 2020 nên từ năm 2023 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được, không ai có nhu cầu hàn gắn tình cảm vì vậy chị T và anh T1 đều đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Do đó, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị T và anh T1 đã có với nhau 01 con chung tên là Ngô Hoàng Khánh N, sinh ngày 03/01/2019. Cả chị T và anh T1 đều có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc con chung đến khi đủ 18 tuổi, chị T và anh T1 không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy rằng việc quyết định giao con chung cho bố hay mẹ nuôi dưỡng phải đảm bảo được sự phát triển bình thường, ổn định và xuất phát từ quyền lợi của con. Xét thấy từ năm 2023 cho đến nay cháu N do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và cháu phát triển tốt. Hiện nay cả chị T và anh T1 đều trình bày có công việc và chỗ ở ổn định, có thu nhập, đủ điều kiện nuôi con. Quá trình làm việc anh T1 trình bày thu nhập bình quân một tháng sau khi trừ các chi phí thì còn dư từ 13.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng nhưng anh T1 không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về thu nhập. Mặt khác, anh T1 làm nghề lái xe tải thường xuyên phải chạy chở hàng có lúc 01-02 ngày mới về nhà. Trong khi đó anh T1 đang ở cùng bố và bác cũng không có khả năng phụ giúp trong việc nuôi cháu N. Xét thấy, do cháu N còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ và cháu N cũng là con gái, mặt khác chị T có thu nhập và chỗ ở ổn định, có bố mẹ phụ giúp trong việc chăm sóc cháu N nên để tránh xáo trộn cuộc sống, làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu N và để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con trong việc được chăm sóc, nuôi dưỡng và sự giáo dục phát triển toàn diện sau này của con chung, cần xem xét giao cháu N cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành là cần thiết. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh T1 xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Ngô Quang T1.

    Cho chị Nguyễn Thị Thanh T ly hôn với anh Ngô Quang T1.

  2. Về con chung: Giao con chung là Ngô Hoàng Khánh N, sinh ngày 03/01/2019 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên. Chị T không yêu cầu anh Trung cấp d nuôi con.

    “Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của luật hôn nhân và gia đình”.

  3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng Chị T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0006167 ngày 12/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/8/2024).

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tuyệt Lê Thị Hòa
Hoàng Xuân Tỵ

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Bảo Lộc;
  • - Chi cục THADS thành phố Bảo lộc;
  • - UBND phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger