TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 8 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tư
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hoàng Thành
- Ông Nguyễn Văn Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Tuyết Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Mỹ N, sinh năm 1989; cư trú tại: khóm T, thị trấn C, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
- - Bị đơn: Anh Vo Lang Q, sinh năm 1970; cư trú tại: USA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn chị Trần Mỹ N trình bày: chị và anh Vo Lang Q quen biết tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Long ngày 04/3/2019. Vợ chồng chung sống được 01 tháng thì anh Vo Lang Q trở về Hoa Kỳ. Sau đó, anh Vo Lang Q có về thăm chị một lần vào năm 2020 thì không về nữa do dịch Covid nhưng vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại. Đến tháng 06/2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau dẫn đến bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ tháng 7 năm 2021 cho đến nay chị và anh Vo Lang Q không còn liên lạc với nhau. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: chị yêu cầu được ly hôn với anh Vo Lang Q.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn chị Trần Mỹ N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Vo Lang Q là bị đơn được Tòa án ủy thác tư pháp theo quy định để tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong đó, ấn định ngày mở phiên họp hòa giải, ngày mở phiên tòa. Ngày 04/02/2024, Cơ quan có thẩm quyền của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tống đạt thông báo việc thụ lý vụ án nêu trên cho người chung sống cùng anh Vo Lang Q nhưng anh Vo Lang Q không gửi ý kiến về Tòa án và không có mặt để tham dự phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 238 và Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vắng mặt đối với chị Trần Mỹ N và anh Vo Lang Q.
[2] Chị Trần Mỹ N và anh Vo Lang Q kết hôn vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Long nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Mỹ N là công dân Việt Nam với anh Vo Lang Q quốc tịch Hoa Kỳ là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn không có nơi cư trú, làm việc ở Việt Nam, nguyên đơn yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú giải quyết, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Theo Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc ly hôn này được áp dụng pháp luật Việt Nam giải quyết.
[3] Nhận thấy chị Trần Mỹ N và anh Vo Lang Q kết hôn nhưng tìm hiểu nhau chưa kỹ. Theo chị Trần Mỹ N trình bày vợ chồng sống xa nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Chị và anh Vo Lang Q không còn liên lạc với nhau từ tháng 7 năm 2021 cho đến nay. Xét thấy hai người ở hai quốc gia khác nhau, thời gian dài không còn liên lạc với nhau, điều này thể hiện không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, ai biết bổn phận của người đó, quan hệ hôn nhân giữa hai người chỉ tồn tại trên hình thức, thực chất tình cảm vợ chồng không còn. Điều này cho thấy chị Trần Mỹ N và anh Vo Lang Q đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, việc chị Trần Mỹ N yêu cầu ly hôn với anh Vo Lang Q là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung, tài sản chung và nợ chung chị Trần Mỹ N không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí: căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Trần Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Tại phiên Tòa vị Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị: chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, áp dụng đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Mỹ N.
- Về quan hệ hôn nhân: cho chị Trần Mỹ N được ly hôn với anh Vo Lang Q.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung chị Trần Mỹ N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí và chi phí tố tụng:
Chị Trần Mỹ N chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000432 ngày 11/10/2023 và số tiền 200.000 đồng đã nộp tạm ứng chi phí ủy thác theo biên lai thu số 0000443 ngày 18/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
- Về thời hạn kháng cáo
Chị Trần Mỹ N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án này được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ. Anh Vo Lang Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án này được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tư |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa chị Trần Mỹ N với anh Vo Lang Q
