Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06 – 12 – 2024

Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Văn Ngọt
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Huỳnh Quốc Trung
Ông Trần Thanh Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2024/TLST–HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4732/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Cẩm H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số A, ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (nhận các văn bản tố tụng, quyết định, bản án của Tòa án nhân dân các cấp): Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số B, khu phố E, đường C, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
  • - Bị đơn: Ông H2, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Số E, thôn T, thị trấn L, huyện L, thành phố H, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (ký tên trên các văn bản tố tụng, giấy tờ có liên quan đến vụ kiện ly hôn giữa ông H1 SHICONG và bà Huỳnh Thị Cẩm H): Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số A, ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2024, đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/10/2024, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H trình bày:

Bà và ông H1 SHICONG quen biết nhau vào khoảng năm 2018, sau một thời gian tìm hiểu ông bà tự nguyện kết hôn vào ngày 05/11/2020 tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre, có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2020, ngày 23 tháng 10 năm 2020. Sau khi đăng ký kết hôn, ông bà sống với nhau khoảng 03 tháng thì ông H1 SHICONG trở về Trung Quốc, vào thời điểm đó do dịch bệnh COVID - 19 bùng phát và diễn biến phức tạp nên việc đi lại giữa Việt Nam và Trung Quốc rất khó khăn và do bận công việc làm ăn nên kể từ đó đến nay ông HE SHICONG không còn sang Việt Nam để chung sống với bà thêm lần nào. Vì thế, bà và ông H1 SHICONG đã sống ly thân với nhau gần 4 năm. Hiện tại bà và ông H1 SHICONG không ai có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng lại với nhau và cũng do khoảng cách xa xôi về địa lý, sự bất đồng về ngôn ngữ nên có rất nhiều vấn đề ông bà không thể thấu hiểu về nhau được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông H1 SHICONG không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông HE SHICONG, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
  • Về con chung: Ông bà có con 01 chung là: HE VIỆT ĐỒNG, sinh ngày: 16/06/2020, giới tính: Nữ, Quốc tịch: Trung Quốc. Hiện tại HE VIỆT ĐỒNG đang sinh sống với bà tại địa chỉ: 1, ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu ĐỒNG, không yêu cầu ông HE SHICONG cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc đi làm ăn xa nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết vắng mặt bà.

Theo văn bản trình bày ý kiến và đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 24/10/2024, bị đơn ông HE SHICONG trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày trong đơn xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Cẩm H về hoàn cảnh tiến tới hôn nhân, việc đăng ký kết hôn, những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống và con chung. Nay ông biết sự việc bà H nộp đơn ly hôn tại Tòa án. Ông có ý kiến như sau:

  • Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Huỳnh Thị Cẩm H. Ông không yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn.
  • Về con chung: Ông và bà H có con 01 chung là: HE VIỆT ĐỒNG, sinh ngày: 16/06/2020, giới tính: Nữ, Quốc tịch: Trung Quốc. Ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tuyên xử cho bà Huỳnh Thị Cẩm H được quyền nuôi dưỡng cháu HE VIỆT ĐỒNG sau khi ông bà ly hôn.
  • Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do khoảng cách địa lý và điều kiện kinh tế khó khăn trong việc đi lại nên ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết vắng mặt ông.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Quan hệ tranh chấp giữa bà Huỳnh Thị Cẩm H và ông H1 SHICONG là ly hôn, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H có địa chỉ: Số A, ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre. Bị đơn ông HE SHICONG hiện đang sinh sống tại Trung Quốc; nên căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Cẩm H và ông H1 SHICONG xác lập hôn nhân với nhau vào năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre, đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2020 ngày 23/10/2020 nên hôn nhân giữa bà H và ông HE SHICONG là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nhận thấy, bà H và ông H1 SHICONG cùng trình bày sau khi kết hôn cả hai chung sống với nhau được khoảng 03 tháng thì ông H1 SHICONG về lại Trung Quốc sinh sống. Thời gian đầu khi ông H1 SHICONG về Trung Quốc, cả hai vẫn thường xuyên liên lạc với nhau thông qua điện thoại. Tuy nhiên, về sau thì hai bên ít liên lạc với nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn như trước, cả hai không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Hiện tại, ông bà đều cho rằng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông H1 SHICONG; khi biết bà H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông HE SHICONG cũng trình bày ý kiến là đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy sau thời gian ông HE SHICONG xuất cảnh trở về Trung Quốc đến nay hai bên không còn thực hiện nghĩa vụ vợ chồng là quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H và ông H1 SHICONG đều xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án cũng không thể hòa giải đoàn tụ. Vì vậy, việc bà H yêu cầu ly hôn với ông HE SHICONG là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Bà H, ông HE SHICONG đều không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên ghi nhận.
  3. Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có 1 con chung là HE VIỆT ĐỒNG, sinh ngày 16/6/2020, hiện cháu Đ đang sống cùng bà H tại địa chỉ: Số A, ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu HE VIỆT ĐỒNG và không yêu cầu ông HE SHICONG cấp dưỡng nuôi con. Ông HE SHICONG cũng đồng ý để bà H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu HE VIỆT ĐỒNG. Đây là sự thỏa thuận của đương sự nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
  4. Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Cẩm H và ông H1 SHICONG đều thống nhất trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
  5. Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Cẩm H và ông HE SHICONG đều thống nhất trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án không nhận đơn yêu cầu độc lập nào của bên thứ ba nên không giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về nợ chung thì các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
  6. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Cẩm H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40, Điều 147, Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Cẩm H đối với ông HE S.
    1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Cẩm H được ly hôn với ông HE SHICONG. Bà Huỳnh Thị Cẩm H và ông H1 SHICONG không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn nên ghi nhận.
    2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Cẩm H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là HE VIỆT ĐỒNG, sinh ngày: 16/06/2020, giới tính: Nữ, Quốc tịch: Trung Quốc. Ghi nhận bà Huỳnh Thị Cẩm H không yêu cầu ông HE SHICONG cấp dưỡng nuôi con.
    3. Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Cẩm H và ông HE SHICONG trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản chung thì được quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
    4. Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Cẩm H và ông HE SHICONG trình bày không có chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án không nhận được đơn yêu cầu độc lập nào của bên thứ ba nên không giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp về nợ chung thì được quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005053 ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. Bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  3. Bà Huỳnh Thị Cẩm H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông HE SHICONG được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Quốc Trung      Trần Thanh TrungPhạm Văn Ngọt

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre;
  • - UBND huyện Thạnh Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Ngọt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger