|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 7 - 2024 Về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Trần Thanh Thế.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Trãi.
- Ông Hồ Minh Khương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thu E, sinh năm 1995. (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện R, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1998. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số G, khu vực B, phường Tr, quận M, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 16/02/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Dương Thị Thu E trình bày:
Vào năm 2020, sau một thời gian tìm hiểu, chị và anh Trần Ngọc T được gia đình cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trường Lạc vào năm 2022 theo quy định. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Ngọc N (nam, sinh ngày 06/6/2021). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bất hòa về tình cảm và kinh tế gia đình nên vợ chồng thường hay cãi nhau. Chị đã cố duy trì cuộc hôn nhân để vợ chồng hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Do hôn nhân không có hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Trần Ngọc N (nam, sinh ngày 06/6/2021). Chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N đến trưởng thành, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Ngọc T nhiều lần vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa,
- - Nguyên đơn chị Dương Thị Thu E có đơn xin vắng mặt.
- - Bị đơn anh Trần Ngọc T vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Dương Thị Thu E và anh Trần Ngọc T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn, chị Thu E khởi kiện ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Dương Thị Thu E có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Trần Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét quan hệ hôn nhân: Chị Thu E và anh T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 21/10/2022 tại Ủy ban nhân dân phường Trường Lạc, quận Ô Môn.
Chị Thu E cho rằng vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn do do bất đồng quan điểm sống, bất hòa về tình cảm và kinh tế gia đình nên thường hay cãi nhau. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc nên ngày 15/3/2023, chị cùng với cháu N đã về nhà cha mẹ ruột của chị để ở đến nay. Do mâu thuẫn không hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T để tham gia tố tụng tại tòa nhưng phía anh T nhiều lần vắng mặt không có lý do, điều này cho thấy anh T không có mong muốn hàn gắn với chị Thu E. Như vậy, mâu thuẫn giữa các đương sự đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị Thu E đối với anh T là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Thu E và anh T có 01 con chung là cháu Trần Ngọc N (nam, sinh ngày 06/6/2021). Chị Thu E yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N đến trưởng thành, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại Đơn xin xác nhận ngày 27/5/2024, hiện chị Thu E đang nuôi dưỡng cháu N; ngoài ra, cháu N còn nhỏ (chỉ hơn 03 tuổi) nên rất cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó, nhằm tránh làm xáo trộn cuộc sống của trẻ, cần giao cháu N cho chị Thu E nuôi dưỡng đến trưởng thành là phù hợp.
Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản anh T thực hiện quyền này.
Về việc cấp dưỡng nuôi con, do chị Thu E không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thu E cho rằng quá trình chung sống chị và anh T không có tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, do anh T vắng mặt nên chưa xác định được phần tài sản chung và nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thu E phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Thu E.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Thu E được ly hôn với anh Trần Ngọc T.
2/ Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc N (nam, sinh ngày 06/6/2021) cho chị Dương Thị Thu E nuôi dưỡng đến trưởng thành, anh Trần Ngọc T không cấp dưỡng nuôi con.
Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản anh T thực hiện quyền này.
3/ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dương Thị Thu E phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Thu E đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004661 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Trần Thanh Thế |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Thu E. 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Thu E được ly hôn với anh Trần Ngọc T. 2/ Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc N (nam, sinh ngày 06/6/2021) cho chị Dương Thị Thu E nuôi dưỡng đến trưởng thành, anh Trần Ngọc T không cấp dưỡng nuôi con. Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản anh T thực hiện quyền này. 3/ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
