|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/DS-ST Ngày: 16-9-2024 "Về việc Tranh chấp Hợp đồng tín dụng". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh, Ông Phạm Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 31/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-DS ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II
Địa chỉ: thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc Q, chức vụ: Phó giám đốc Chi nhánh B - Hà Tĩnh II của Ngân hàng N (Quyết định ủy quyền số 67/QĐ-NHN.BKA-GĐ ngày 19/2/2024). Có mặt.
- Bị đơn:
1. Chị Đặng Thị T – Sinh ngày: 16/12/1995
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Địa chỉ cư trú hiện tại: 36/114 S, ngã tư A, tiểu khu K, quận B, B, Thái Lan; Nơi làm việc: Trung tâm thương mại C, B, Thái Lan; Địa chỉ liên hệ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh). Có mặt.
2. Anh Trương Hữu H – Sinh ngày:12/9/1992
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú hiện tại: không rõ. Vắng mặt. (Đã đăng tin thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú và thông báo thời gian, địa điểm xét xử vụ án trên kênh V, phát tin cả trong và ngoài nước).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo và tại phiên tòa, nguyên đơn là Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II thông qua người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 24/3/2020, vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H do chị Đặng Thị T đại diện theo giấy ủy quyền ngày 17/3/2020 đã ký kết với Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng tín dụng số 3713-LAV-202000521 để vay số tiền 300.000.000 đồng; lãi suất 10,5%/ năm và có thể được điều chỉnh theo từng thời kỳ theo quy định của Ngân hàng N, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; thời hạn vay 36 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay đến hết ngày 24/3/2023; kỳ hạn trả nợ gốc: ngày 24/3/2021 trả 50.000.000 đồng, ngày 24/3/2022 trả tiếp 50.000.000 đồng; ngày 24/3/2023 trả 200.000.000 đồng còn lại; kỳ hạn trả nợ lãi: trả lãi theo quý vào ngày 21 của các tháng 3, 6, 9, 12 hằng năm. Vào ngày 25/3/2020 Ngân hàng đã giải ngân bàn giao số tiền vay 300.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng đã ký cho vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H.
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 3713-LCL-202000443 ngày 17/3/2020 ký kết giữa Ngân hàng với vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H, tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay gồm có: Quyền sử dụng đất của vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H đối với thửa đất số 44A tờ bản đồ số 23 tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, diện tích 233m² trong đó bao gồm 130m² đất ở và 103m² đất trồng cây lâu năm, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM064403, số vào sổ cấp GCN: CH 01776, do UBND huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 26/12/2017 mang tên anh Trương Hữu H, chị Đặng Thị T và ngôi nhà xây của vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H gắn liền với thửa đất.
Quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H đã không trả nợ đầy đủ và đúng kỳ hạn như hợp đồng đã ký kết nên khoản nợ vay đã được chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 25/3/2021, cho đến ngày xét xử 16/9/2024 vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H chỉ mới trả được 15.000.000 đồng tiền gốc và 8.543.836 đồng tiền lãi, còn dư nợ tiền gốc 285.000.000 đồng, dư nợ tiền lãi 165.320.856 đồng, tổng cộng dư nợ gốc và lãi là: 450.320.856 đồng.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số dư nợ gốc và lãi nêu trên, ngoài ra còn phải trả nợ lãi quá hạn phát sinh thêm sau ngày xét xử. Trường hợp anh Trương Hữu H, chị Đặng Thị T không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, kịp thời, đề nghị Tòa án cho xử lý tài sản thế chấp, bán quyền sử dụng đất và nhà của vợ chồng chị Đặng Thị T - anh Trương Hữu H để thu hồi nợ.
Trong các bản khai và tại phiên tòa bị đơn là chị Đặng Thị T trình bày:
Hoàn toàn thừa nhận vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H có quan hệ hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II đúng như người đại diện của Ngân hàng trình bày, thừa nhận đến thời điểm xét xử chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H còn nợ Ngân hàng 285.000.000 đồng tiền gốc, 165.320.856 đồng tiền lãi. Tổng cộng dư nợ gốc và lãi là: 450.320.856 đồng.
Chị Đặng Thị T đồng ý chị và anh Trương Hữu H phải cùng nhau trả số dư nợ vay cho Ngân hàng, hiện nay chị và anh H đã ly hôn, cho nên đề nghị Tòa án phân chia mỗi người có nghĩa vụ trả một nửa. Trong trường hợp, chị T hoặc anh H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì đồng ý xử lý tài sản thế chấp, bán quyền sử dụng đất và nhà của chị Đặng Thị T - anh Trương Hữu H để trả nợ Ngân hàng. Sau khi phát mại, bán lấy tiền đã trả hết nợ mà còn thừa thì đề nghị chia đôi số tiền còn thừa cho chị và anh H, mỗi người hưởng một nửa.
Đối với bị đơn là anh Trương Hữu H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và các giấy báo, giấy triệu tập làm việc cho anh H theo địa chỉ đăng ký thường trú của anh H nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Xác minh thông qua chính quyền địa phương nơi anh H đăng ký hộ khẩu thường trú và thông qua ông Trương Công H1 – bố đẻ của anh H xác định được anh H đã rời khỏi nơi cư trú từ lâu, hiện nay ở đâu chính quyền và gia đình không biết, đồng thời ông Trương Công H1 trình bày có một lần anh H điện thoại về cho ông H1 trao đổi anh H đang sinh sống làm ăn tại Thái Lan, muốn bán nhà để trả nợ ngân hàng. Phòng Q1 cho biết trước đây anh H có xuất cảnh ra nước ngoài vào năm 2018, nhưng đã nhập cảnh trở lại Việt Nam vào ngày 13/2/2020. Ông Trương Công H1 cam kết sẽ liên lạc với anh H qua điện thoại, địa chỉ mạng xã hội của anh H để thông tin cho anh H biết thông báo thụ lý vụ án, các giấy báo, giấy triệu tập, thông báo của Tòa án được Tòa án gửi cho anh H thông qua ông H1; Tòa án cũng đã đăng tin trên kênh V phát tin cả trong và ngoài nước để tìm kiếm anh H, thông báo việc thụ lý vụ án, thời gian, địa điểm mời anh H về làm việc, xét xử vụ án nhưng anh H vẫn không có mặt.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đề nghị:
Căn cứ:
- - Các Điều 134, 138, 139 Bộ luật dân sự; các Điều 24, 27, 29, 37, 60 Luật Hôn nhân và Gia đình
- - Các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 7, 8, 10, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- - Các Điều 292, 293, 295, 298, 299, 301, 302, 303, 304, 307, 308, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 324 Bộ luật dân sự;
- - Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo
Xử:
Buộc chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H phải liên đới trả cho Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II tiền gốc 285.000.000 đồng, tiền lãi 165.320.856 đồng, tổng cộng là 450.320.856 đồng, trong đó kỷ phần của chị Đặng Thị T, anh Trương Hữu H mỗi người một nửa.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.
Trường hợp chị Đặng Thị T hoặc anh Trương Hữu H hoặc cả 2 người không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II được quyền bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Sau khi phát mại, bán lấy tiền đã trả hết nợ mà còn thừa thì chia đôi số tiền còn thừa, chị T, anh H mỗi người được hưởng một nửa.
Buộc chị Đặng Thị T, anh Trương Hữu H mỗi người phải nộp 11.006.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II số tiền tạm ứng án phí 10.360.000 đồng đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Bị đơn thứ nhất là chị Đặng Thị T đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hiện tại đang tạm trú tại B - Thái Lan; Bị đơn thứ hai là anh Trương Hữu H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, đồng thời cũng là nơi cư trú cuối cùng tại Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, cho nên theo quy định tại các Điều 26, 35, 37, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng anh Trương Hữu H vắng mặt tại nơi cư trú. Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, giấy báo, thông báo làm việc, các quyết định, văn bản tố tụng cho anh Trương Hữu H thông qua bố của anh H là ông Trương Công H1 và ông Trương Công H1 đã cam kết sẽ thông tin lại cho anh H thông qua điện thoại, địa chỉ mạng xã hội của anh H; Tòa án cũng đã tiến hành đăng tin trên kênh VOV Đài tiếng nói Việt Nam phát tin cả trong và ngoài nước để tìm kiếm anh H và thông báo cho anh H biết thời gian, địa điểm mời anh H về làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử vụ án, tuy nhiên anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các Điều 173, 174, 180, điểm e khoản 1 Điều 192, các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt anh Trương Hữu H.
[2].
Mặc dù anh Trương Hữu H không ký vào Hợp đồng tín dụng số 3713-LAV-202000521 ngày 24/3/2020 và không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến về hợp đồng tín dụng cũng như yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, tuy nhiên, trước đó anh H đã ký giấy ủy quyền ngày 17/3/2020 có chứng thực hợp pháp của Ủy ban Nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh về việc ủy quyền cho chị Đặng Thị T thay mặt anh H ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng. Mặt khác, trước đó anh H đã cùng với chị T ký hợp đồng thế chấp số 3713-LCL-202000443 ngày 17/3/2020 với Ngân hàng có chứng thực hợp pháp của Ủy ban Nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh và cùng với chị T ký phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 17/3/2020 có chứng nhận của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H – Chi nhánh B. Quá trình giải quyết vụ án chị T cũng hoàn toàn thừa nhận việc chị T đã thay mặt anh H ký hợp đồng tín dụng theo sự ủy quyền của anh H và cùng với anh H ký hợp đồng thế chấp, phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp. Cho nên theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 134, 138, 139 Bộ luật dân sự; các Điều 24, 27, 29, 37, 60 Luật Hôn nhân và Gia đình thì hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp có hiệu lực ràng buộc nghĩa vụ trả nợ và nghĩa vụ bảo đảm trả nợ đối với cả chị T và anh H, nghĩa vụ trả nợ và nghĩa vụ bảo đảm trả nợ của chị T và anh H là bình đẳng như nhau và có hiệu lực cả trước cũng như sau khi ly hôn.
[3].
Ngân hàng và chị T đều trình bày và cung cấp được các chứng cứ chứng minh đến nay đã quá hạn trả nợ nhưng chị T – anh H vẫn còn nợ Ngân hàng tiền gốc 285.000.000 đồng, tiền lãi 165.320.856 đồng, tổng cộng là 450.320.856 đồng, còn anh H mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không có mặt để trình bày ý kiến hoặc cung cấp bằng chứng bảo vệ cho mình. Dó đó, đủ cơ sở chấp nhận lời trình bày của Ngân hàng và chị T về số dư nợ nêu trên.
[4].
Trường hợp chị T hoặc anh H hoặc cả 2 người không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì căn cứ các Điều 292, 293, 295, 298, 299, 301, 302, 303, 304, 307, 308, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 324 Bộ luật dân sự, Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II được quyền bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Sau khi xử lý tài sản thế chấp, bán lấy tiền đã trả hết nợ mà còn thừa thì chia đôi số tiền còn thừa, chị T, anh H mỗi người được hưởng một nửa.
[5]. Về án phí
Theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo thì chị T và anh H phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm: 20.000.000 đồng + 4%x(450.320.856 đồng – 400.000.000 đồng) = 22.012.000 đồng, trong đó chị T, anh H mỗi người phải nộp một nửa: 11.006.000 đồng. Ngân hàng được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Các Điều 134, 138, 139 Bộ luật dân sự; các Điều 24, 27, 29, 37, 60 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 7, 8, 10, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- - Các Điều 292, 293, 295, 298, 299, 301, 302, 303, 304, 307, 308, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 324 Bộ luật dân sự;
- - Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo
Xử:
- Buộc chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H phải liên đới trả cho Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II tiền gốc 285.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi lăm triệu đồng), tiền lãi 165.320.856 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm hai mươi nghìn tám trăm năm mươi sáu đồng), tổng cộng là 450.320.856 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu ba trăm hai mươi nghìn tám trăm năm mươi sáu đồng), trong đó:
- - Kỷ phần của chị Đặng Thị T là tiền gốc 142.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng), tiền lãi 82.660.428 đồng (T1 mươi hai triệu sáu trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng), tổng cộng 225.160.428 đồng (Hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng);
- - Kỷ phần của anh Trương Hữu H là tiền gốc 142.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng), tiền lãi 82.660.428 đồng (T1 mươi hai triệu sáu trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng), tổng cộng 225.160.428 đồng (Hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh theo từng thời kỳ theo quy định của Ngân hàng N mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 3713-LAV-202000521 ký ngày 24/3/2020 giữa vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H (do chị Đặng Thị T đại diện) với Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II.
- Trường hợp chị Đặng Thị T hoặc anh Trương Hữu H hoặc cả 2 người không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II được quyền bán tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất của vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H đối với thửa đất số 44A tờ bản đồ số 23 tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, diện tích 233m² trong đó bao gồm 130m² đất ở và 103m² đất trồng cây lâu năm, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM064403, số vào sổ cấp GCN: CH 01776, do UBND huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 26/12/2017 mang tên anh Trương Hữu H, chị Đặng Thị T và ngôi nhà xây của vợ chồng chị Đặng Thị T – anh Trương Hữu H gắn liền với thửa đất để thu hồi nợ. Sau khi xử lý tài sản thế chấp, bán lấy tiền đã trả hết nợ mà còn thừa thì chia đôi số tiền còn thừa, chị Đặng Thị T, anh Trương Hữu H mỗi người được hưởng một nửa.
- Buộc chị Đặng Thị T, anh Trương Hữu H mỗi người phải nộp 11.006.000 đồng (Mười một triệu không trăm linh sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng N chi nhánh B - Hà Tĩnh II số tiền tạm ứng án phí 10.360.000 đồng (Mười triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000886 ngày 24/5/2024.
Ngân hàng N chi nhánh B - H, chị Đặng Thi T2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trương Hữu H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tùng |
Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 41/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử chấp nhận đơn khởi kiện
