|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/DS-ST
Ngày: 04-6-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất,
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất, đòi lại quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Thìn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Cao Thị Diệu Hiền.
- Bà Ngô Thị Mỹ Lợi.
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh C, sinh năm 1952.
- Ông Cao Minh T, sinh năm: 1970.
- Chị Đặng Thị Thúy V, sinh năm: 1996.
- Bị đơn: Anh Trần Ngọc T1, sinh năm: 1983.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Xuân T2, sinh năm 1976.
- Chị Trần Thị Bích T3, sinh năm: 1987.
- Ông Cao Minh T, sinh năm: 1970.
- Chị Đặng Thị Thúy V, sinh năm: 1996.
- Bà Huỳnh Thị M, sinh năm: 1957.
- Anh Trần Minh H, sinh năm: 1981.
- Chị Trần Phương T4, sinh năm: 1983.
- Anh Trần Minh T5, sinh năm: 1988.
- Chị Mai Thị H1, sinh năm: 1988.
- Anh Trần Minh N, sinh năm: 1990.
- Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Cao Hoàng D, sinh năm: 1984.
- Chị Võ Thị Kiều T6, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C:
Địa chỉ: Khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số D, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ.
(Hợp đồng ủy quyền ngày 09/11/2023).
Địa chỉ: Số A L, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T1: Luật sư Nguyễn Thị Kim L – Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Cùng địa chỉ: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T2 và chị T3:
Địa chỉ: Khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số D, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ.
(Hợp đồng ủy quyền ngày 09/11/2023).
Cùng địa chỉ: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Người đại diện: Ông Nguyễn Văn P; Chức vụ: Trưởng phòng Phòng Công chứng số B tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số D N, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ.
Cùng nơi ở hiện nay: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Người làm chứng: Ông Trần Văn Q sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số A, ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Chị V, anh T1, Luật sư L, ông Q có mặt tại phiên tòa. Ông T, bà M, anh H, chị T4, anh T5, chị H1, anh N, ông P, anh D, chị T6 vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh C là chị Đặng Thị Thúy V trình bày:
Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ anh Trần Ngọc T1 đứng tên quyền sử dụng đất (QSDĐ) có nguồn gốc do cụ Huỳnh Thị T7 sử dụng từ trước năm 1975. Qua thời gian sử dụng cụ T7 kê khai và được UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận (GCN QSDĐ) ngày 23/02/2000 cho hộ bà Huỳnh Thị T7 thửa đất 683a, tờ bản đồ số 1A, diện tích 3.242m². Sau khi làm thủ tục xin cấp đổi GCN QSDĐ thì hộ Huỳnh Thị T7 được cấp thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, diện tích 251,9m², loại đất trồng cây lâu năm ngày 22/6/2006.
Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, trước đây vào năm 1987 cụ T7 có cho vợ chồng con trai là ông Trần Xuân C1 và bà Trần Thị Thanh C cất nhà ra ở riêng cùng với các con ông C1, bà C (chị Trần Thị Xuân T2 và chị Trần Thị Bích T3). Từ khi ở trên đất, ban đầu bà C, ông C1 cất nhà vách ván, nền gạch tàu, mái lá để ở sinh sống. Sau đó có xây dựng lại nhà cấp 4 khung bê tông cốt thép, tường xây gạch, máy tôn, nền gạch men để sinh sống, toàn bộ thửa đất số 27 do phía bà C quản lý, sử dụng từ năm 1987 đến nay.
Sau khi được cấp GCN QSDĐ vào ngày 22/6/2006 thì đến này 03/7/2006 cụ T7 và các thành viên trong hộ gồm ông Trần Minh H2, bà Kiến Thị N1, anh Trần Hùng Phi H3 đã lập văn bản Thỏa thuận về việc cho đất đai để ông C1 được cấp GCN QSDĐ, nhưng do một số điều kiện về thủ tục nên cơ quan thẩm quyền chưa cấp GCN QSDĐ cho ông C1.
Đối với việc anh T1 được UBND thành phố Sa Đéc cấp GCN QSDĐ thửa đất 27 ngày 11/9/2015 theo Hợp đồng tặng cho xác lập ngày 17/8/2015 giữa cụ Huỳnh Thị T7 cùng với các thành viên trong hộ (Huỳnh Thị M, Trần Minh H, Trần Phương T4, Trần Minh T5, Mai Thị H1, Trần Kim P1) là không có thật, bởi vì:
- Do ông Trần Văn Q (là con rể của cụ T7) cho rằng con của bà C là chị T2 thiếu nợ anh T1 (con của ông Q) nên ông Q nói với cụ T7 ký hợp đồng tặng cho đất để chuyển cho T1 được đứng tên GCN QSDĐ thửa đất 27 của gia đình ông C1, bà C đến khi nào chị T2 về trả nợ cho anh T1 thì anh T1 làm thủ tục chuyển trả lại QSDĐ cho gia đình bà C (sự việc này được chứng minh qua Biên bản hòa giải thành của Ban N2 ngày 17/11/2015 trong đó có ghi ý kiến của ông Q như trên). Nhưng trên thực tế chị T2 không có nợ tiền anh T1 mà chỉ là lý do ông Quốc t đưa ra. Trong khi đó, đến thời điểm ngày 17/11/2015 tại buổi hòa giải giữa ông Q, cụ T7, bà C thì ý chí của cụ T7 cũng đã thể hiện rõ việc cụ T7 cho đất vợ chồng ông C1, bà Cát qua ý kiến “con trai tôi chết rồi, tôi để đất đó lại cho con dâu tôi”.
- Ngoài ra, trong thời gian từ trước ngày 18/02/2014 đến tháng 11/2015 đã có nhiều biến động nhằm mục đích giả tạo để chuyển QSDĐ từ cụ T7 qua anh T1 không đúng quy định, thể hiện qua các sự kiện sau:
- Từ thời điểm cấp đất lần đầu đến trước năm 2014 cụ T7 ở trong hộ số D, ấp P, xã T, thành phố S với các thành viên trong hộ gồm có: cụ T7, ông H2, bà N1, anh H3.
- Tháng 02/2014 cụ T7 chuyển hộ khẩu từ hộ 429, ấp P, xã T sang hộ số D, ấp P, xã T do bà Huỳnh Thị M làm chủ hộ.
- Ngày 12/5/2015 cụ T7 có đơn báo mất GCN QSDĐ.
- Ngày 11/8/2015 cụ T7 được cấp lại GCN QSDĐ mới.
- Ngày 17/8/2015 cụ T7 và những người trong hộ số 428 đã lập Hợp đồng tặng cho QSDĐ cho anh T1.
- Ngày 11/9/2015 anh T1 được UBND thành phố S cấp GCN QSDĐ.
- Ngày 23/11/2015 cụ T7 chuyển hộ khẩu về số nhà D.
Từ năm 2023 bà C có cho anh Cao Hoàng D, chị Võ Thị Kiều T6 ở nhờ trong căn nhà trên thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37.
Nay bà C yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa hộ bà Huỳnh Thị T7 với anh Trần Ngọc T1 do Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày 17/8/2015, thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, giả tạo và lừa dối. Yêu cầu Tòa án kiến nghị UBND thành phố S thu hồi GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp cho anh Trần Ngọc T1 ngày 11/9/2015, thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37. Yêu cầu công nhận cho bà C và chị T2, chị T3 được quyền sử dụng thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đo đạc thực tế các mốc M1-M2-M3-M4-M1, diện tích 232,8m², theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Yêu cầu bà C, chị T2, chị T3 đứng tên chung QSDĐ thửa đất 27; bà C, chị T2, chị T3 đồng ý nộp toàn bộ các loại phí, thuế cấp GCN QSDĐ.
Đối với yêu cầu phản tố của anh T1 yêu cầu bà C, chị T2, chị T3, anh D, chị T6 di dời nhà chính, nhà phụ, tài sản, cây trồng... trả lại cho anh T1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 thì bà C không đồng ý toàn bộ.
Ngoài ra, bà C không có yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Ngọc T1 trình bày:
Anh T1 là cháu ngoại cụ T7, ông C1 là con ruột cụ T7, bà C là vợ ông C1, chị T2 và chị T3 là con ruột ông C1, bà C. Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 có nguồn gốc trước đây là của cụ Huỳnh Thị T7. Anh T1 không biết bà C và ông C1 sử dụng thửa đất số 27 từ thời gian nào, anh T1 chỉ nhớ vào khoảng năm 1990 đã thấy có căn nhà bà C, ông C1 trên thửa đất số 27, lúc đó nhà có kết cấu nền gạch tàu, vách ván, mái ngói và bà C, ông C1, chị T2, chị T3 cùng sinh sống ở đó; cụ T7 nói với anh T1 là cụ T7 cho gia đình bà C, ông C1 ở tạm chứ không có cho luôn phần đất thửa đất 27 cho bà C, ông C1. Trong quá trình sử dụng thì phía ông C1, bà C có sửa chữa, mở rộng nhà trên đất như hiện nay.
Thửa đất số 27 cụ T7 được cấp GCN QSDĐ lần đầu vào thời gian nào thì anh T1 không biết. Đến ngày 11/8/2015 được cấp đổi GCN QSDĐ thửa đất số 27 cho hộ cụ Huỳnh Thị T7. Đến ngày 17/8/2015 hộ cụ T7, trong đó có cụ T7, bà M, anh H, chị T4, anh T5, chị H1, ông P1 lập hợp đồng tặng cho toàn bộ thửa đất 27 cho anh T1; đến ngày 11/9/2015 anh T1 được cấp GCN QSDĐ thửa đất 27 đến nay.
Thời điểm anh T1 được tặng cho thửa đất 27 thì bà C là người trực tiếp ở trong căn nhà trên đất, còn chị T2, chị T3 không thường xuyên ở đây. Từ năm 2018 thì bà C, chị T3, chị T2 không ở trong nhà trên thửa đất 27 nữa mà bà C cho những người khác ở; hiện nay có anh Cao Hoàng D và chị Võ Thị Kiều T6 đang ở trong nhà này. Khi anh T1 đã được cấp GCN QSDĐ thửa đất số 27, anh T1 nghĩ là để cho bà C ở trên thửa đất số 27 đến hết đời bà C, nên năm 2018 anh T1 có nộp đơn khởi kiện yêu cầu bà C di dời nhà, giao thửa đất số 27 cho anh T1, nhưng sau đó rút đơn khởi kiện Tòa án đình chỉ vụ án.
Nay anh T1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C, do Hợp đồng tặng cho QSDĐ thửa đất 27, tờ bản đồ số 37 giữa hộ cụ Huỳnh Thị T7 với anh T1 được Phòng Công chứng số 2 tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày 17/8/2015 hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Anh T1 yêu cầu bà C, chị T2, chị T3, anh D và chị T6 di dời nhà, tài sản đi nơi khác trả lại cho anh T1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37,đo đạc thực tế các mốc M1-M2-M3-M4-M1, diện tích 232,8m², theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Tại phiên tòa anh T1 đồng ý trả giá trị nhà, cây trồng trên đất cho phía bà C theo giá của Hội đồng định giá. Hiện bản chính GCN QSDĐ thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 anh T1 đang giữ, không có thế chấp để vay tiền tại tổ chức hay cá nhân nào.
Ngoài ra, anh T1 không có yêu cầu gì khác.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 là chị Đặng Thị Thúy V trình bày:
Chị T2, chị T3 thống nhất với toàn bộ lời trình bày, ý kiến, yêu cầu của bà C. Ngoài ra, chị T2, chị T3 không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị M, anh Trần Minh H, chị Trần Phương T4, anh Trần Minh T5, chị Mai Thị H1, anh Trần Minh N có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến:
Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 tọa lạc ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc là của cụ Huỳnh Thị T7. Trước đây, ngày 17/8/2015 ông P1, bà M, anh H, chị T4, anh T5, chị H1 là thành viên trong hộ có ký Hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa hộ cụ Huỳnh Thị T7 cho anh Trần Ngọc T1 thửa đất 27, tờ bản đồ số 37 (đất là của cụ T7, nhưng cấp cho hộ nên thành viên trong hộ ký hợp đồng tặng cho). Việc thành viên trong hộ ký hợp đồng tặng cho thửa đất số 27 cho anh T1 là đúng quy định pháp luật. Bà M, anh H, chị T4, anh T5, chị H1, anh N không có tranh chấp, không có yêu cầu gì trong vụ án, kể cả trường hợp Hợp đồng tặng cho QSDĐ ngày 17/8/2015 vô hiệu.
Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp là ông Nguyễn Văn P có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến:
Ngày 17/8/2015 Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp có công chứng hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 5601, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD giữa cụ Huỳnh Thị T7 cùng thành viên trong hộ là Huỳnh Thị M, Trần Minh H, Trần Phương T4, Trần Minh T5, Mai Thị H1, Trần Kim P1 với anh Trần Ngọc T1. Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ nêu trên là đúng quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Hoàng D, chị Võ Thị Kiều T6 có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến:
Vào năm 2023 được sự đồng ý của bà C, chị T2, chị T3 có cho anh D, chị T6 ở để quản lý trông coi căn nhà số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37. Anh Dũng, chị T6 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì trong vụ án. Mọi kết quả giải quyết của Tòa án anh D, chị T6 sẽ chấp hành theo quy định.
Luật sư Nguyễn Thị Kim L bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn anh Trần Ngọc T1 phát biểu quan điểm tranh luận:
Qua ý kiến phát biểu tranh luận, Luật sư L đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà C và chấp nhận yêu cầu của anh T1; buộc bà C, chị T2, chị T3, anh D và chị T6 di dời nhà, tài sản đi nơi khác trả lại cho anh T1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đo đạc thực tế các mốc M1-M2-M3-M4-M1, diện tích 232,8m², theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Anh T1 đồng ý trả giá trị nhà, cây trồng trên đất cho phía bà C theo giá của Hội đồng định giá đã định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, cũng như của người tham gia tố tụng.
- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 giữa hộ cụ Huỳnh Thị T7 với anh Trần Ngọc T1 ngày 17/8/2015 vô hiệu. Kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh T1 đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 để cấp lại cho bà C, chị T2, chị T3 phần đất đo đạc thực tế các mốc M1-M2-M3-M4-M1, diện tích 232,8m², theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
- Về án phí và chi phí tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Các đương sự trong vụ án tranh chấp với nhau về QSDĐ, hợp đồng tặng cho QSDĐ, đòi lại QSDĐ. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp phải giải quyết của vụ án là “tranh chấp QSDĐ, hợp đồng tặng cho QSDĐ, đòi lại QSDĐ”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự ông Cao Minh T, bà Huỳnh Thị M, anh Trần Minh H, chị Trần Phương T4, anh Trần Minh T5, chị Mai Thị H1, anh Trần Minh N, ông Nguyễn Văn P, anh Cao Hoàng D, chị Võ Thị Kiều T6 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án: Phía nguyên đơn cho rằng từ năm 1987 cụ Huỳnh Thị T7 đã tặng cho thửa đất 27, tờ bản đồ số 37 cho vợ chồng nguyên đơn. Còn phía bị đơn cho rằng trước kia cụ T7 chỉ cho ở nhờ chứ không tặng cho luôn QSDĐ cho vợ chồng nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Mối quan hệ trong gia đình các đương sự như sau: Ông C1 là con ruột cụ T7, bà C là vợ ông C1, chị T3, chị T2 là con ruột ông C1, bà C và gọi cụ T7 là bà nội. Còn anh T1 là cháu ngoại của cụ T7.
Thửa đất số 27 qua đo đạc thực tế hiện nay có diện tích 232,8m², trên đất có căn nhà chính, nhà phụ tổng diện tích 87,3m². Theo nguyên đơn trình bày đã ở trên đất từ năm 1987, được mẹ là cụ T7 cho, ban đầu nguyên đơn cất nhà vách ván, nền gạch tàu, mái lá; sau đó các năm 2002, 2009 xây dựng nhà chính, nhà phụ kiên cố như hiện nay. Thời gian xây cất lại, mở rộng nhà thì cụ T7 còn sống và các anh chị em ông C1 đều biết. Hiện nay căn nhà của phía bà C còn trên đất, bà C đang quản lý, sử dụng.
Đồng thời qua các tài liệu, chứng cứ bà C giao nộp cho Tòa án nhận thấy tờ “Thỏa thuận V/v Cho đất đai” có xác nhận ngày 10/7/2006 của Ban N2, xã T, thành phố S thể hiện ý chí cụ T7 đồng ý cho đất ông Trần Xuân C1 (chồng bà C) và theo biên bản hòa giải thành ngày 17/11/2015 cụ T7 tiếp tục có ý kiến “con trai tôi chết rồi, tôi để đất đó lại cho con dâu tôi”, tuy trong biên bản không nói rõ đất ở đâu, nhưng bà C có trình bày trong biên bản là quyền sử dụng đất (sổ đỏ) anh T1 đứng tên. Tại phiên tòa anh T1 cũng thừa nhận từ trước đến nay anh T1 chỉ được tặng cho và đứng tên QSDĐ thửa đất 27 từ cụ T7, mà không được cụ T7 tặng cho thửa đất nào khác. Cho nên, có căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất nói đến trong biên bản hòa giải thành ngày 17/11/2015 là thửa đất số 27. Bên cạnh đó, qua xác minh thu thập chứng cứ lời khai những người làm chứng thể hiện vợ chồng bà C, ông C1 được cụ T7 cho thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đã xây cất nhà để ở, quản lý, sử dụng từ khoảng năm 1987 đến nay. Tuy anh T1 đứng tên QSDĐ thửa đất 27 từ ngày 11/9/2015, nhưng từ trước đến nay chưa nhận bàn giao đất, chưa từng quản lý, sử dụng đất.
Qua đó, có căn cứ chứng minh cụ T7 đã cho thửa đất 27, tờ bản đồ số 37 cho vợ chồng ông C1, bà C và những người này được quyền quản lý, sử dụng đất.
[2.2] Từ những cơ sở phân tích, nhận định như trên, cụ T7 đã cho đất bà C, ông C1 cất nhà ở ổn định trên 30 năm. Do đó, hợp đồng tặng cho QSDĐ thửa đất số 27 ngày 17/8/2015 là vô hiệu. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; bà C, chị T2, chị T3 được quyền sử dụng thửa đất số 27, qua đo đạc thực tế có diện tích là 232,8m².
[2.3] Do hợp đồng tặng cho QSDĐ thửa đất số 27 ngày 17/8/2015 vô hiệu, nên việc anh T1 yêu cầu bà C, chị T2, chị T3, anh D và chị T6 di dời nhà, tài sản đi nơi khác trả lại đất cho anh T1 là không có căn cứ để chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, tuyên bố vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nên bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Anh Trần Ngọc T1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 600.000 đồng. Bà Trần Thị Thanh C đã nộp tạm ứng toàn bộ chi phí; do đó anh T1 phải trả lại cho bà C 600.000 đồng.
[5] Đối với ý kiến của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận, như đã nhận định trên.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến phát biểu về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 165, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 117, 122, 166, 192, 500, 501, 502 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 100, 166, 167 và 203 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 12, 14, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh C, không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Trần Ngọc T1.
- Tuyên bố Hợp đồng tặng cho QSDĐ thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 giữa hộ cụ Huỳnh Thị T7 cùng các thành viên trong hộ là bà Huỳnh Thị M, anh Trần Minh H, chị Trần Phương T4, anh Trần Minh T5, chị Mai Thị H1, ông Trần Kim P1 với anh Trần Ngọc T1 được Phòng C2 tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày 17/8/2015 vô hiệu.
Bà Trần Thị Thanh C và chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 được quyền sử dụng đất diện tích 232,8m², thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đo đạc thực tế các mốc M1-M2-M3-M4-M1; đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
(Có Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S kèm theo).
Cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 số bìa CA 847139, số vào sổ cấp GCN CH08218 do UBND thành phố S cấp ngày 11/9/2015 cho anh Trần Ngọc T1 cấp lại cho bà Trần Thị Thanh C, chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 diện tích nêu trên theo quy định.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật, chi phí, lệ phí, các loại thuế bà Trần Thị Thanh C và chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 chịu.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T1 đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003808 ngày 04/12/2023 (Anh T1 đã nộp xong).
Miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị Thanh C, do bà C là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc anh Trần Ngọc T1 phải trả cho bà Trần Thị Thanh C 600.000 đồng.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Thìn |
Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 41/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của bà C
