Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 41/2021/HNGĐ-ST
Ngày 08 tháng 7 năm 2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Chi
  2. Bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 08/7/2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2021/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39a/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/6/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2021/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2021, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Anh Trịnh Văn H, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
    Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường X, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
    Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường X, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/3/2021 và ý kiến trình bày của nguyên đơn anh Trịnh Văn H trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2013 anh có kết hôn với chị Nguyễn Thị M, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi cưới anh chị được tự do tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và có được tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại gia đình nhà anh ở phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến đầu năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu của mâu thuẫn là về kinh tế, do anh là người khuyết tật không đủ khả năng lao động để kiếm tiền lo cho cuộc sống của vợ chồng và các con nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung. Bản thân anh cũng đã tâm sự với chị M về việc anh bị hạn chế trong khả năng lao động để chị M thông cảm cùng chia sẻ với anh trong cuộc sống nhưng chị M không thông cảm, mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng tăng không thể tiếp tục chung sống và vợ chồng đã sống ly thân. Do vậy, chị M đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 12/2020 đến nay và để lại hai con chung của vợ chồng cho anh nuôi dưỡng. Trong thời gian sống ly thân cuộc sống vợ chồng của ai người đấy lo không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị M.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị M có 02 con chung là Trịnh Gia K, sinh ngày 28/10/2013 và Trịnh Gia H1, sinh ngày 19/11/2016. Hiện nay cả 02 cháu đang ở với anh. Khi ly hôn, nếu chị M không nuôi con anh đề nghị được nuôi dưỡng cả hai cháu. Về cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện anh H không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con nhưng trong quá trình giải quyết anh H trình bày anh là người khuyết tật không có khả năng lao động, kinh tế vẫn phụ thuộc vào bố mẹ nên anh yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/ 1 tháng/ 1 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có tài sản chung, không có nợ chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai chị Nguyễn Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Trịnh Văn H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại UBND phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Trước khi kết hôn hai người được tự do tìm hiểu, sau khi kết hôn chị về làm dâu nhà anh H ngay. Từ tháng 12/2020 vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do không hợp nhau, vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm, không bảo ban được nhau trong làm ăn phát triển kinh tế; vợ chồng đã ly thân từ đó cho tới nay, không ai còn quan tâm đến ai, hiện chị đi làm ăn xa thi thoảng mới về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Trại Mãn, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Trịnh Văn H đề nghị Tòa án xin ly hôn với chị, chị hoàn toàn nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Trịnh Gia K, sinh ngày 28/10/2013 và Trịnh Gia H1, sinh ngày 19/11/2016, hiện cả hai cháu đang ở cùng anh H, ly hôn anh H xin nuôi cả hai cháu, không yêu cầu chị nuôi con, chị hoàn toàn nhất trí.

Về tài sản chung và công nợ chung: Không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” phải giải quyết trong vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Anh H và chị M có nhiều mâu thuẫn trong mối quan hệ vợ chồng, anh chị không còn sống chung là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Anh H và chị M có hai con chung là cháu Trịnh Gia K, sinh ngày 28/10/2013 và cháu Trịnh Gia H1, sinh ngày 19/11/2016. Hội đồng xét xử thấy: Do anh H là người khuyết tật nên để đảm bảo cuộc sống cho hai cháu và theo nguyện vọng của cháu K thì có nguyện vọng được ở với anh H. Do vậy, cần giao cháu K cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu H1 cho chị M chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với qui định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trịnh Văn H.
    1. 1.1. Về hôn nhân: Anh Trịnh Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị M.
    2. 1.2. Về con chung:
      1. 1.2.1 Giao con chung là cháu Trịnh Gia K, sinh ngày 28/10/2013 cho anh Trịnh Văn H nuôi dưỡng. Giao con chung là cháu Trịnh Gia H1, sinh ngày 19/11/2016 cho chị Nguyễn Thị M nuôi dưỡng.
      2. 1.2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
  2. Về án phí: Anh Trịnh Văn H được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Trịnh Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0002010 ngày 01/4/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Bắc Giang;
- CCTHADS TP. Bắc Giang;
- Các đương sự;
- UBND phường Xương Giang;
- Lưu HS, VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa



Đinh Thị Thu Hà
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2021/HNGĐ-ST ngày 08/07/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 41/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn H xin ly hôn chị Nguyễn Thị M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger