Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀ BÌNH
TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 41/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 01-07-2021
V/v Tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tài Em
  2. Ông Dương Văn Hậu

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn - kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 07 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐXX-ST ngày 19 tháng 05 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 06 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Ánh H, sinh năm 1969
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn H, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu

2. Bị đơn: Ông Trương Thanh L, sinh năm 1966
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn H, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu

(Bà H có đơn xin vắng mặt, ông L vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 02 năm 2021 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Lê Ánh H trình bày: Bà và ông Trương Thanh L xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 1992, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định.

Quá trình chung sống bà và ông L có 02 (hai) con chung tên là Trương Chí N, sinh năm 1994, Trương Thị Mẫn N1, sinh năm 1999. Hiện cả hai con chung giữa bà và ông L là cháu N, cháu N1 đã trưởng thành và có cuộc sống tự lập.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa bà và ông L là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cãi nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay.

Nay, bà Lê Ánh H yêu cầu ly hôn với ông Trương Thanh L, về con chung: Đã trưởng thành và có cuộc sống tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, bà H không còn ý kiến trình bày gì thêm.

Đối với ông Trương Thanh L không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời, ông L cũng không cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của bà Lê Ánh H theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của thủ tục tố tụng dân sự cho ông L nhưng ông L không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

* Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề xuất: Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Ánh H và ông Trương Thanh L là vợ chồng.
  2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
  3. Án phí: Bà Lê Ánh H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là bà Lê Ánh H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trương Thanh L nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Trương Thanh L có đăng ký thường trú tại ấp T, thị trấn H, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, bà Lê Ánh H có đơn xin vắng mặt, ông Trương Thanh L vắng mặt. Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng dân sự cho ông L để tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án theo yêu cầu ly hôn giữa bà H và ông L theo quy định, nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H, ông L.

[2] Về hôn nhân: Bà H và ông L xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 1992, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, bà H và ông L do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cãi nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Trong quá trình xét xử vụ án, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông L, không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xem xét cho ly hôn. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống bà H và ông L không có đăng ký kết hôn là vi phạm vào Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên căn cứ theo quy định khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L không phải là hôn nhân hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận, nên không công nhận bà Lê Ánh H và ông Trương Thanh L là vợ chồng.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà H và ông L có 02 (hai) con chung tên là Trương Chí N, sinh năm 1994, Trương Thị Mẫn N1, sinh năm 1999. Hiện cả hai con chung giữa bà H và ông L là cháu N, cháu N1 đã trưởng thành và có cuộc sống tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định bà H và ông L không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, bà H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[6] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1/- Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Ánh H và ông Trương Thanh L là vợ chồng.

2/- Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, bà Lê Ánh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Bà H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010508 ngày 04 tháng 03 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bạc Liêu;
- VKSND huyện Hòa Bình;
- THADS huyện Hòa Bình;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Phan Thị Mỹ Xuyên
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2021/HNGĐ-ST ngày 01/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 41/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án hôn nhân Lê Ánh Hồng- Trương Thanh Liêm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger