|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 409/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2024
Về việc: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Mai Thị Thanh Hương;
- 2. Bà Trần Thị Thanh Dung.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Định – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số 530/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HNST ngày 13/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QĐST-HPT ngày 06/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thủy T, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Căn hộ B.02 Block B, tầng 13, chung cư C, số F đường L, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
Bị đơn: Ông Trần Hồng N, sinh năm: 1981; Địa chỉ: Căn hộ B.02 Block B, tầng 13, chung cư C, số F đường L, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: Số I đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Thủy T xác định yêu cầu khởi kiện như sau:
Bà và ông Trần Hồng N qua thời gian tìm hiểu được 01 năm thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2015 theo Giấy chứng nhận kết hôn theo số 24, quyển số 01/2015 đăng ký ngày 18/4/2015 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 năm thì có con, Sau thời gian này bà Tiên cảm t hụt hẫng nhiều điều trong cuộc sống hôn nhân và thất vọng với sự thờ ơ và không đồng nhất trong việc chăm con với ông N. Trong quá trình chung sống, ông N có bạo hành bà T. Vợ chồng đã sống ly thân một thời gian.
Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được bà T yêu cầu Tòa án Quận G giải quyết những vấn đề sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Hồng N.
- - Về con chung: bà và ông N có 01 con chung là trẻ Trần P sinh ngày 11/3/2016. Hiện tại trẻ P đang sống cùng bà T, nguyện vọng của bà T là sau khi ly hôn được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng. Trường hợp ông N cấp dưỡng nuôi con, bà đồng ý.
- - Về tài sản chung: Bà T xác định không có
- - Về nợ chung: Bà T xác định không có.
Bị đơn ông Trần Hồng N tại các bản tự khai, biên bản làm việc, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa trình bày:
Ông và bà Phạm Thị Thủy T qua thời gian tìm hiểu được 3 năm thì cả hai tiến tới hôn nhân có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2015.
Ông không đồng ý với phần trình bày của bà T, còn về nguyên nhân mâu thuẫn thì theo ông mâu thuẫn giữa ông và bà T bắt đầu từ năm 2019 do có sự mâu thuẫn trong việc giáo dục con chung cũng như việc bà T theo đuổi tín ngưỡng và có những mối quan hệ ông cho rằng không phù hợp. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2023 hiện tại vẫn đang sống ly thân.
- Về quan hệ hôn nhân: Đối với yêu cầu ly hôn của bà T, ông không đồng ý ly hôn. Ông N chỉ đồng ý ly hôn khi bà T giao trẻ P cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về con chung: Bà Phạm Thị Thủy T và ông Trần Hồng N có 01 con chung là trẻ Trần P sinh ngày 11/3/2016. Nếu Tòa vẫn giải quyết ly hôn thì ông N sẽ là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp giao con cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu) đồng. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 01- 05 hàng tháng và bắt đầu từ tháng 7/2024.
- Về tài sản chung: Ông N có nộp đơn phản tố yêu cầu chia tài sản là Căn hộ B12Bis.02 Block B, tầng 13, chung cư C, số F đường L, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 12/12/2023 ông Trần Hồng N làm Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân Quận 7.
Ngày 20/12/2023, Tòa án nhân dân Quận 7 ban hành Thông báo sửa đổi, bổ sung đơn theo Thông báo số 45/2023/TB – TA.
Ngày 12/4/2024 ông N nhận được thông báo số 45/2023/TB – TA ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7.
Ngày 07/5/2024, ông N làm đơn phản tố gửi tới Tòa án nhân dân Quận 7.
Ngày 09/5/2024 Tòa án nhân dân Quận 7 ban hành Thông báo trả lại đơn phản tố theo Thông báo số 41/2024/TB – TA với lý do ông N chưa thực hiện đúng theo Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, ông N xác nhận vợ chồng ông không có tài sản chung. Việc ông nộp đơn yêu cầu chia tài sản là nhằm mục đích kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
- Về nợ chung: Ông Trần Hồng N xác nhận không có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến
I. VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án được giải quyết chưa đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
II. Ý KIẾN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Về án phí hôn nhân gia đình: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về án phí cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
1.1 Về quan hệ tranh chấp: Qua xem xét nội dung vụ án thì đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Trần Hồng N, sinh năm 1981 có thực thế cư trú tại địa chỉ số I đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thủy T và ông Trần Hồng N qua thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2015 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01/2015 đăng ký ngày 18/4/2015 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Nguyên đơn và bị đơn đều xác định quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà T khởi kiện ly hôn, ông N không đồng ý ly hôn. Ông N chỉ đồng ý ly hôn khi bà T giao trẻ P cho ông được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T và ông N đã sống ly thân một thời gian. Bà T xác định tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống. Ông N thừa nhận trong quá trình chung sống, ông có dùng vũ lực với bà T, có giam bà T trong phòng vì ông cho rằng bà T có mối quan hệ khác.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai phía, cả hai cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc. Hôn nhân phải có sự yêu thương chăm sóc và tôn trọng lẫn nhau, phải xuất phát từ tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân của các đương sự ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh số 55 đăng ký ngày 12/04/2016 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D và lời khai của đương sự đã có đủ cơ sở để kết luận: Bà T và ông N có 01 người con chung Trần P, sinh ngày
11/03/2016. Bà T và ông N đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ P. Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét về điều kiện chăm sóc trẻ P của bà T:
Bà T hiện làm việc tại Công ty CP M, chức vụ giám đốc chiến lược với mức thu nhập bình quân 50.000.000 đồng/tháng.
Bà T và trẻ P hiện đang sinh sống tại căn hộ B.02 Block B, tầng 13, chung cư C, số F đường L, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời gian chăm sóc, bà T làm công việc cố định thời gian.
Xét về điều kiện chăm sóc trẻ P của ông N:
Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông N không chứng minh được thu nhập ổn định. Theo các tài liệu ông N cung cấp và lời trình bày của ông N, ông N thường xuyên đi công tác.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho ai phải xem xét đến điều kiện về vật chất và thời gian cũng như nguyện vọng của con trẻ. Trẻ Trần P hiện nay đang sống với bà T. Tại bản tự khai ngày 25/10/2023, trẻ P có nguyện vọng được ở cùng mẹ là bà Phạm Thị Thủy T. Do đó, nhằm tạo điều kiện ổn định phát triển tâm lý và vật chất cho con chung, nên tiếp tục giao con chung cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc.
Ông N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu) đồng. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 01- 05 hàng tháng và bắt đầu từ tháng 7/2024 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Trong trường hợp ông N chậm thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì ông N còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành.
Nếu sau này ông N có chứng cứ xác thực được bà T nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Trần P không tốt thì ông N có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con đối với bà T.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, ông N được quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở nhưng hai bên không được lợi dụng việc nuôi con, thăm con để làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con.
- Về tài sản chung: Bà T và ông N xác nhận không có tài sản chung nên không xét.
- Về nợ chung: Bà T và ông N xác nhận không có nên không xét.
3. Về nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 68, 69, 70, 71, 72, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Luật Phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014.
Xử:
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Thủy T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thủy T được ly hôn ông Trần Hồng N. (Giấy chứng nhận kết hôn theo số 24, quyển số 01/2015 đăng ký ngày 18/4/2015 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về con chung: Bà Phạm Thị Thủy T và ông Trần Hồng N có 01 con chung tên Trần P, sinh ngày 11/03/2016. Giao bà T là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ Trần Phong . Ông N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu) đồng. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 01 - 05 hàng tháng và bắt đầu từ tháng 7/2024 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Trong trường hợp ông N chậm thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì ông N còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, ông N được quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở nhưng hai bên không được lợi dụng việc nuôi con, thăm con để làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con.
- Về tài sản chung: Không có
- Về nợ chung: Không có
- Án phí dân sự sơ thẩm ly hôn bà Phạm Thị Thủy T phải chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0037273 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà T còn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Ông N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014.
6. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm P1 |
Bản án số 409/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 409/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
