Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 401/2024/HS- ST

Ngày: 22-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành

Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Quý Dân, bà Chu Thị Kim Oanh

- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Trần Tuấn Khanh- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 07 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H, xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 292/2024/TLST- HS ngày 14 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 429/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 06 năm 2024, đối với:

* Bị cáo: Bùi Văn Đ; tên khác: không; sinh năm 1982, tại Hải Phòng; nơi cư trú: thôn S, xã P, Thủy N, Hải Phòng; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Bùi Văn L và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Hoàng Thị H (sinh năm 1985) và có 04 con (sinh các năm 2006, 2018 và 2023); chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023, tại Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; số giam: E; có mặt.

* Người làm chứng: anh Nguyễn Xuân T; sinh năm 1978; địa chỉ: tổ dân phố số C- G, phường T, P, Thái Nguyên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 19/12/2023, qua tuần tra kiểm soát tại đường vành đai 3 đoạn nối đường L thuộc phường T (H, Hà Nội), tổ công tác Đội cảnh sát giao thông số A- Công an Thành phố H kiểm tra hành chính đối với xe taxi (biển kiểm soát 20A- 383.76) do Nguyễn Xuân T đang điều khiển, chở Bùi Văn Đ và 02 công dân người Trung Quốc, không có giấy tờ nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam là Fei F (sinh năm 1990, CMND số 330683199009250411) và Qin Fo H1 (sinh năm 2000, CMND số: 450481200004243211).

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn Đ khai nhận: đầu tháng 12 năm 2023, Bùi Văn Đ lên thành phố P (Thái Nguyên) để tìm việc làm; Đ có liên hệ qua ứng dụng Zalo và quen biết đối tượng tên T1 quê ở T (Hải Phòng, không biết địa chỉ cụ thể) sử dụng số điện thoại 0989.348.xxx và tài khoản Zalo là “Love”; Đ có nhờ T1 giới thiệu việc làm cho mình và T1 nói đang ở Campuchia, chờ T1 về rồi tính.

Tối ngày 18/12/2023, T1 liên lạc với Đ qua “Zalo” báo có người cần thuê đón và đưa người Trung Quốc từ nút giao Y (Thái Nguyên) đi Quảng Trị và hỏi có làm không, Đại đồng ý nhận lời. Theo yêu cầu của T1, Đ mua sim điện thoại mới (không nhớ số điện thoại) và gửi cho T1 rồi T1 gửi cho người thuê để người này liên lạc với Đ.

Sau đó, Đ nhận được cuộc gọi từ người đàn ông sử dụng số thuê bao 0345567830 liên hệ và đặt vấn đề thuê Đ đón 02 người Trung Quốc tại nút giao Y (thành phố P, Thái Nguyên) vào khoảng 11 giờ ngày 19/12/2023 và đưa cửa khẩu L1 (Quảng Trị) với tiền công là 08 triệu đồng; Đ hỏi lại “người Trung Quốc có giấy tờ không” thì được trả lời là “không có”; Đ và người thuê thỏa thuận: Đ sẽ trả các chi phí thuê phương tiện và ăn uống dọc đường cho 02 người Trung Quốc; trường hợp không thuê được xe đưa 02 người Trung Quốc đi thẳng đến Quảng Trị thì đưa đến Trạm thu phí P (T, Hà Nội), người này sẽ bố trí xe đưa tiếp đi Quảng Trị; khi đến cửa khẩu L1, Đ gọi thông báo để người này cung cấp số điện thoại của bên nhận người. Do không sử dụng tài khoản ngân hàng nên Đ xin số tài khoản của lái xe và cung cấp để người này chuyển khoản thanh toán tiền thuê xe và tiền công.

Sau đó, Đại liên hệ với anh Nguyễn Xuân T đặt xe đón tại ngã ba Y đi Hà Nội vào khoảng 11 giờ ngày 19/12/2023, yêu cầu T cho số tài khoản ngân hàng để chuyển tiền thanh toán; việc Đ có số điện thoại của anh T là do trước đó, Đ đã từng đi xe của T và được cho số điện thoại.

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, Đ đi bộ từ nơi ở trọ ra đợi tại quán C (địa chỉ: tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) nhưng nhận được thông báo từ người thuê lùi thời gian đón người đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Đ thông báo cho T về việc thay đổi thời gian; do tài khoản số sim mới mua hết tiền nên từ sáng ngày 19/12/2023, Đ dùng số 0905930250 để gọi cho người thuê.

Khoảng 13 giờ ngày 19/12/2023, Đ gọi điện cho Nguyễn Xuân T đến đón tại nút giao Y, chỉ dẫn đến quán cà phê D và cùng ngồi chờ để đón thêm người; T hỏi Đ “muốn đi đâu” thì Đ nói “đi Hà Nội”; Đ có hỏi T có đi xa được không thì T từ chối do bận việc gia đình; các bên thống nhất thanh toán tiền cước theo báo giá trên đồng hồ của xe. Lúc này, Đ nhận được điện thoại của người thuê báo 02 người Trung Quốc đã đến nút giao Y, đi xe taxi 123 và biển đầu số 88 màu trắng; Đ bảo T đi đến địa chỉ trên để đón thêm 02 người bạn nữa; T lái xe đưa Đ đi khoảng 300 mét thì gặp xe taxi chở 02 người Trung Quốc. Đ gọi cho người sử dụng số điện thoại 0345.567.xxx báo đang ở phía sau rồi ra khỏi xe, đón 02 người Trung Quốc về xe của T để đi về Hà Nội. Khi T điều khiển xe taxi đến đường vành đai 3 (đoạn nối đường L, thuộc phường T, H, Hà Nội) thì bị Cảnh sát giao thông dừng xe, kiểm tra hành chính và phát hiện 02 công dân người Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh hợp pháp nên đã đưa các đối tượng liên quan về trụ sở Công an phường T để làm việc.

Trong quá trình làm việc với lực lượng Cảnh sát giao thông, Đ đã vứt bỏ chiếc điện thoại và sim mới mua (được sử dụng để liên lạc với người thuê); Đ chưa được người thuê thanh toán tiền công tổ chức cho 02 đối tượng người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép.

Fei FanQin Fo H1 khai nhận: Đầu tháng 12 năm 2023, Fei FQin Fo H lên mạng xã hội tìm việc làm thì được các đối tượng khác (không rõ thông tin) hứa sẽ đưa sang Campuchia, Thái Lan để làm việc với mức lương cao và không phải trả chi phí cho việc di chuyển. Ngày 18/12/2023, hai người này được hướng dẫn đến thành phố N (Q) rồi được các đối tượng khác đưa đến khu vực S (giáp biên giới Việt Nam), nhập cảnh trái phép vào Việt Nam theo đường mòn. Khoảng 05 giờ ngày 19/12/2023, hai đối tượng này được 01 xe ô tô 07 chỗ màu trắng đón và đưa vào nội địa (trên xe có 01 lái xe và 01 người Việt Nam). Khoảng 13 giờ ngày 19/12/2023, Fei FQin Fo H1 được Bùi Văn Đ đón tại Thái Nguyên và đưa sang xe taxi (BKS: 20A-38376) đi về đến Hà Nội thì bị Cơ quan chức năng của Việt Nam kiểm tra và phát hiện. Fei FanQin Fo H1 thừa nhận đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam; ngày 22/12/2023 (bút lục 294), Phòng 6- Cục A1, Bộ C1 cung cấp: không có thông tin liên quan đến xuất nhập cảnh của 02 trường hợp nêu trên.

Ngày 25/01/2024 (bút lục 286- 289), Công an Thành phố H đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 02 đối tượng người Trung Quốc là Fei FQin Fo H1, theo hình thức phạt tiền đối với mỗi đối tượng là 4.000.000 đồng, phạt bổ sung là trục xuất khỏi Việt Nam.

* Tại Cáo trạng số 283/CT- VKS- P1 ngày 11/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố Bùi Văn Đ về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội luận tội đối với bị cáo Bùi Văn Đ tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Văn Đại t 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; quyết định tịch thu sung công đối với chiếc điện thoại di động Oppo đã thu giữ của bị cáo theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan điều tra Công an Thành phố H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo Bùi Văn Đ tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và lời khai của người làm chứng, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: Bùi Văn Đ đã thỏa thuận với các đối tượng tên T1 và 01 nam giới khác (đều không rõ về nhân thân và lai lịch) về việc Đ sẽ đón 02 đối tượng người Trung Quốc (nhập cảnh trái phép vào Việt Nam) và đưa đến cửa khẩu L1 (Quảng trị) với tiền công là 8.000.000 đồng; khoảng 13 giờ ngày 19/12/2023, Bùi Văn Đ thuê xe ô tô do anh Nguyễn Xuân T điều khiển đón 02 người Trung Quốc là Fei FQin Fo H1 tại nút giao Y (Thái Nguyên) di chuyển qua Hà Nội, khi đi đến khu vực đường V (đoạn nối đường L, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội) thì bị phát hiện; hành vi của Bùi Văn Đ đã phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự; Cáo trạng truy tố bị cáo Bùi Văn Đ theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Văn Đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải và đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

[3] Điều 348 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào vì vụ lợi mà tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội và nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm tới trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh quản lý việc lưu trú tại Việt Nam của người nước ngoài, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử phạt nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Bị cáo Bùi Văn Đ không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội” và “bị cáo có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn”, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đánh giá về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa sơ thẩm về điều luật áp dụng, mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Bùi Văn Đ; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Do bị cáo Bùi Văn Đ có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

[7] Kết quả xác minh không làm rõ được các đối tượng đã thuê bị cáo Bùi Văn ĐT1 (sử dụng số điện thoại: 0989.348.xxx, Z: Love) và người đàn ông sử dụng số điện thoại 0345.567.xxx (bị cáo Đ chưa gặp mặt); các đối tượng Fei FQin Fo H1 (nhập cảnh Việt Nam trái phép) đã bị Công an Thành phố H xử phạt vi phạm hành chính 25/01/2024 theo thẩm quyền; kết quả điều tra xác định anh Nguyễn Xuân T (lái xe taxi) không biết các hành vi phạm tội của bị cáo và không đồng phạm trong vụ án. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với các đối tượng nêu trên là có căn cứ; Cáo trạng không truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định bị cáo Bùi Văn Đ đã sử dụng chiếc điện thoại di động OPPO (bị thu giữ) để liên lạc với các đối tượng T1 và người đàn ông sử dụng số điện thoại 0345.567.xxx nên cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước đối với chiếc điện thoại nêu trên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Bị cáo Bùi Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
    • - Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2023.
    • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn Đ.
  2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (số IMEI1: 869778040811573, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động) đã thu giữ của bị cáo Bùi Văn Đ (thực hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2024).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Bùi Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo Bùi Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Thành phố Hà Nội (P1);
  • - Trại tạm giam số 1- CATPHN;
  • - Cơ quan ANĐT (Đ3)- CATPHN;
  • - Cục THADS Thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo Bùi Văn Đại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM NĂNG THÀNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 401/2024/HS- ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức cho người khác nhập cảnh việt nam trái phép

  • Số bản án: 401/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Văn Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger