TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 409/2024/DS-PT
Ngày: 09-5-2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Điệp.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Ngọc Tường
Bà Huỳnh Thị Như Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thuỳ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Mạnh Thị Tố Uyên - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 09/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1145/2023/DS-ST ngày 27/6/2023 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1092/2024/QĐ-PT ngày 01/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4177/2024/QĐ-PT ngày 29/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4872/2024/QĐ-PT ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Kim T, sinh năm 1962; Địa chỉ: B đường số D, khu dân cư C, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Trị Minh Q, sinh năm 1980; Địa chỉ: E ấp T, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre; Địa chỉ liên hệ: 2 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo uỷ quyền (văn bản ủy quyền ngày 04/02/2021) (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Đỗ Thị H – Luật sư Văn phòng L và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- Bị đơn: Ông Cao Văn Đ, sinh năm 1972; HKTT: A Đường T, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên hệ: 3 B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Đại diện Nguyên đơn trình bày:
- Đợt 1: đặt cọc 500.000.000 đồng vào ngày 17/01/2019.
- Đợt 2: thanh toán tiếp 8.500.000.000 đồng vào ngày 22/01/2019.
- Đợt 3: thanh toán hết số tiền còn lại sau khi ông Đ hoàn tất thủ tục xin cấp giấy phép theo quy định của pháp luật, hoàn thành việc kí kết hợp đồng mua bán căn nhà nêu trên tại phòng công chứng và bàn giao nhà.
- Ông Đ đồng ý trả số tiền lãi phát sinh từ ngày 17/01/2019 đến ngày 01/8/2020 đối với số tiền 5.500.000.000 đồng là 300.000.000 đồng.
- Số tiền cọc mà ông Đ còn nợ là 3.600.000.000 đồng.
- Đợt 1: trả 500.000.000 đồng vào ngày 03/8/2020
- Đợt 2: trả 3.400.000.000 đồng vào ngày 01/10/2020
- Buộc ông Cao Văn Đ có trách nhiệm trả cho bà Hồ Thị Kim T số tiền nợ là 3.400.000.000 đồng.
- Tiền lãi theo lãi suất nợ quá hạn do ngân hàng N quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả, tạm tính từ ngày 01/10/2020 đến ngày 01/11/2020 là 3.400.000.0000 đồng x 1%/tháng x 01 tháng = 34.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Cao Văn Đ:
- Bản án sơ thẩm số 1145/2023/DS-ST ngày 27/6/2023 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
- Tại phiên toà phúc thẩm:
- + Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị y án sơ thẩm.
- + Bị đơn cho rằng đã trả tiền cho bà T nhiều lần thông qua ông Lê Trị Minh Q nhưng hiện tại không không cung cấp được tài liệu có giá trị pháp lý về việc chuyển tiền vì thời gian đã quá lâu. Ông đề nghị được trả số tiền 1.900.000.000 đồng.
- + Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- + Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Vào ngày 17/01/2019 bà Hồ Thị Kim T có ký Hợp đồng đặt cọc với ông Cao Văn Đ để mua biệt thự số 38 Khu A, Khu dân cư B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, với giá là: 13.500.000.000 đồng. Theo thỏa thuận trong Hợp đồng giữa bà Kim T và ông Văn Đ số tiền này sẽ được thanh toán làm 03 đợt:
Tuy nhiên, vào ngày ký Hợp đồng đặt cọc, ông Đ nói cần tiền giải quyết công việc nên đề nghị bà T cọc số tiền là 5.500.000.000 đồng, chứ không phải 500.000.000 đồng như ghi trong Hợp đồng đặt cọc, bà T thấy ông Đ có thiện chí nên đồng ý cọc cho ông Đ số tiền là 5.500.000.000 đồng bằng tiền mặt.
Tại thời điểm hai bên thỏa thuận ký Hợp đồng đặt cọc, nhà đất của ông Đ chưa làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên ông Đ đã cam kết sẽ hoàn tất thủ tục trong thời gian 90 ngày kể từ ngày kí Hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày kí hợp đồng đặt cọc mà ông Đ vẫn chưa hoàn tất thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà T nhiều lần liên hệ với ông Đ yêu cầu thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng về thời gian kí hợp đồng mua bán tại Phòng công chứng nhưng ông Đ cứ cố kéo dài thời gian.
Bà T nghi ngờ nên tìm hiểu và được biết đất mà ông Đ bán cho bà T nằm trong dự án nên không xin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong vòng 90 ngày như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do vậy, bà T đã yêu cầu ông Đ hủy và hoàn trả lại số tiền đặt cọc mà ông Đ đã nhận, ông Đ đã đồng ý.
Đến ngày 01/8/2020 ông Đ đã chuyển khoản trả cho bà T số tiền là 1.900.000.000 đồng và cùng ngày bà T và ông Đ có lập Văn bản thỏa thuận về thời gian trả số tiền còn lại và số tiền lãi phát sinh như sau:
Tổng số tiền ông Đ còn phải trả cho bà T là: 3.900.000.000 đồng. Số tiền này ông Đ phải trả làm 02 đợt như sau:
Đến nay ông Đ vẫn còn nợ bà T số tiền đợt 2 là 3.400.000.000 đồng không chịu trả và cố tình kéo dài thời gian. Bà T đã nhiều lần làm việc với ông Đ yêu cầu trả số nợ này nhưng vẫn không có kết quả.
Bà T khởi kiện đề nghị:
Tổng số tiền bà Kim T yêu cầu ông Cao Văn Đ phải trả là: 3.400.000.0000 đồng + 34.000.000 đồng = 3.434.000.000 đồng.
Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông Cao Văn Đ. Ông Đ đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Kim T về việc đòi ông Cao Văn Đ phải trả lại số tiền là 4.012.150.685 đồng. Trong đó tiền gốc là 3.150.000.000 đồng và tiền lãi là 862.150.685 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm thanh toán, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 28/8/2023, ông Cao Văn Đ kháng cáo, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hình thức: đơn kháng cáo của ông Cao Văn Đ trong thời hạn luật định. Quá trình tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: cấp sơ thẩm đã xem xét và đánh giá đầy đủ chứng cứ và có quyết định phù hợp. Tại toà phúc thẩm, ông Đ cung cấp chứng cứ mới nhưng chứng cứ mới không có giá trị pháp lý nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về nội dung:
- Về án phí:
đơn kháng cáo của ông Cao Văn Đ nộp trong thời hạn, đương sự đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm phù hợp quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, bản án sơ thẩm số được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn: ông Đ cho rằng giữa ông và ông Q, bà H1 có làm ăn chung mua bán nhiều nhà đất. Khi ký hợp đồng đặt cọc đều ghi số tiền mua bán cao hơn nhằm mục đích vay ngân hàng hoặc chào khách giá cao. Xong giao dịch ông lấy hợp đồng thực tế, ông Quốc giữ hợp đồng không đúng giá thực. Đối với hồ sơ đặt cọc nhà bà T ông không biết bà T, ông viết giấy trả tiền cọc cho ông Q. Ông không nợ gì bà T.
Xét thấy, Hợp đồng đặt cọc ông Đ ký với bà T ngày 17/01/2019; ông Đ có ghi bằng chữ viết đã nhận 5.500.000.000 đồng và Giấy xác nhận ngày 01/8/2020 có nội dung ông Đ còn nợ bà T số tiền 3.900.000.000 đồng và hẹn thời gian thanh toán, trong giấy cam kết này ông Q chỉ là người làm chứng. Như vậy, việc ông Đ cho rằng không biết bà T là không có căn cứ chấp nhận. Ông Đ không thực hiện nghĩa vụ cam kết nên cấp sơ thẩm buộc trả số tiền cùng lãi suất chậm trả là có căn cứ.
Tại phiên toà phúc thẩm, ông Đ xuất trình chứng cứ bản ghi âm nhưng không có bản in chữ nộp kèm và không chứng minh người có giọng nói trong băng ghi âm là ai đồng thời cũng không có nội dung thừa nhận như ông Đ trình bày. Ngoài ra, ông Đ xuất trình sao kê Ngân hàng bản photocoppy, không có giá trị pháp lý.
Nếu ông Đ có căn cứ chứng minh có việc làm ăn với ông Q và ông Q đang nợ tiền của ông thì ông được quyền khởi kiện ông Q bằng một vụ án khác.
Do đó, không có chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án nên không chấp nhận kháng cáo của ông Cao Văn Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Án phí sơ thẩm: Giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
Án phí phúc thẩm: Người kháng cáo ông Cao Văn Đ phải chịu.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 328, 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hình thức:
- Về nội dung:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Cao Văn Đ có nghĩa vụ trả cho bà Hồ Thị Kim T tổng số tiền là 4.012.150.685 đồng (Trong đó tiền gốc là 3.150.000.000 đồng và tiền lãi là 862.150.685 đồng).
- Về án phí:
- Quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Cao Văn Đ.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Cao Văn Đ. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 1145/2023/DS-ST ngày 27/6/2023 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
Trường hợp ông Cao Văn Đ chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà Hồ Thị Kim T thì ông Đ phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự là 20%/năm trên số tiền phải hoàn trả; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Bộ luật Dân sự là 10%/năm.
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Cao Văn Đ phải chịu 112.012.151 đồng.
Hoàn trả cho bà Hồ Thị Kim T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 50.340.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2019/0088924 ngày 04/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Cao Văn Đ phải chịu 300.000 đồng và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2023/0028351 ngày 15/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đ đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Điệp |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | ||
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Lê Ngọc Tường | Huỳnh Thị Như Hà | Châu Thị Điệp |
Bản án số 409/2024/DS-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 409/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hồ Thị Kim T tranh chấp hợp đồng đặt cọc với ông Cao Văn Đ
