TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 409/2024/HS-ST Ngày: 08-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam;
- Ông Đinh Công Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Tống Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 367/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 363/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và thông báo dời lịch xét xử số 348/TB-TA ngày 16/7/2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Tâm N, năm 2002 tại tỉnh Cà Mau; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau. Nơi ở: Không có nơi ở nhất định. Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 8/12. Con ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 01, bị cáo chưa có chồng, có 01 con sinh năm 2020.
- Họ và tên: Hà Văn Đ, sinh năm 1994 tại tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Đ, xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nơi ở: Không có nơi ở nhất định. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 3/12. Con ông Hà Văn Ứ và bà Lô Thị T2; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01, bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ tạm giữ ngày 26/02/2024 và chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Tiền án: 01 (Ngày 25/02/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị hại: Anh Hồ Hữu K, sinh năm: 1997.
Địa chỉ: Tổ A, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo Như có mặt, Đ vắng mặt; bị hại K vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tâm N và anh Hồ Hữu K sinh năm 1997, ngụ tại tổ A, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai quen biết nhau qua mạng xã hội.
Ngày 20/5/2023, Như nhắn tin cho anh K nói đến phường L, thành phố B chở N đi chơi. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, anh K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 60F2-465.04 đến quán C thuộc phường L để đón Như. Anh K và N đi chơi với nhau tại công viên T, thành phố B. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 21/5/2023, anh K chở N đến nhà nghỉ V1 thuộc khu phố A, phường A, thành phố B và thuê phòng, mục đích để quan hệ tình dục với Như. Tại đây, anh K đề nghị Như cho quan hệ tình dục nhưng Như không đồng ý nên anh K nằm trên giường sử dụng điện thoại. Lợi dụng lúc anh K không để ý, Như lén lấy chìa khóa xe mô tô đang để trên bàn rồi đi xuống nơi để xe, mở khóa nổ máy và điều khiển xe mô tô biển số 60F2-465.04 đi ra công viên T. Sau khi chiếm đoạt được xe của anh K, Như điện thoại liên lạc với bạn trai là Hoàng Thanh L, sinh năm 1994, thường trú: Thôn A, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nói cho L biết N vừa lấy trộm xe của anh K và nhờ L đến để chở N đưa xe đi bán lấy tiền tiêu xài. L đi grab đến rồi điều khiển xe trộm cắp được chở N đến một nhà nghỉ (Không nhớ tên) tại thành phố D, tỉnh Bình Dương thuê phòng nghỉ qua đêm. L và N bàn bạc tìm người để bán xe.
Sau đó, Như gặp bạn là Hà Văn Đ, sinh năm 1994, thường trú: Xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An nói cho Đ biết xe mô tô biển số 60F2-465.04 không có giấy, vừa lấy trộm được và nhờ Đ bán với giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), N sẽ trả cho Đ 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền công. Đại chụp hình ảnh chiếc xe trên và gửi qua tin nhắn zalo cho bạn tên Thang Phong V, sinh năm 1998, thường trú: Ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nói với V xe không giấy và nhờ V bán với giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Do xe không có giấy nên V biết nguồn gốc xe do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý bán giúp Đại để lấy tiền chênh lệch. V đăng lên Facebook “Hội nhóm mua bán trao đổi xe máy Bình Dương” để bán xe Exciter, biển số 60F2-465.04. Khi V đăng bán xe mô tô trên thì anh Hồ Hữu K lên mạng xã hội phát hiện nên nhờ anh trai Hồ Hữu Q hẹn gặp V để thỏa thuận mua xe với giá 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) thì được V đồng ý. V hẹn anh Q khoảng 16 giờ ngày 22/5/2023, gặp xem xe tại quán cafe không tên kế bên massage Quỳnh Như tại đường D, thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đồng thời V liên lạc với Đ hẹn đưa xe đến địa điểm trên để khách xem xe. Đến giờ hẹn Đ không đưa xe đến địa điểm trên mà liên lạc với V hẹn anh Q đến trước trường Trung học cơ sở N1 thuộc khu phố A, phường A, thành phố T để mua bán xe. Sau khi hẹn thời gian địa điểm mua bán xe với V, anh Q đến Công an phường A, thành phố T trình báo sự việc.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, V, Đ và anh Q đến điểm hẹn tại khu vực trường Trung học cơ sở N1 thì bị Công an phường A đưa các đối tượng và xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 60F2-465.04 về trụ sở Công an phường để làm việc, lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T. Đến ngày 23/5/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển hồ sơ cùng các đối tượng đến Công an thành phố B để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Như, Đ, L và V khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- Xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 60F2-465.04, số máy 425882, số khung 406765, là tài sản của anh Hồ Hữu K, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho anh K.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, số máy: MGL12LL/A, gắn sim số 0898704409 của Như và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, code P666888, sim số 0925936917 của Đại, là phương tiện sử dụng để liên lạc vào mục đích phạm tội, chuyển xử lý cùng vụ án.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 Prime của L và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo của V, do L và V đang bỏ trốn nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau.
- 01 USB ghi hình vụ trộm cắp, lưu cùng hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận định giá số 310/KL-HĐĐGTS ngày 07/6/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Xe mô tô biển số 60F2-465.04 có trị giá 31.843.000 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Anh Hồ Hữu K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số 376/CT-VKSBH ngày 31 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Tâm N về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Hà Văn Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nguyễn Tâm N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tâm N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù giam.
- - Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn Đại t 01 (một) năm đến 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo N: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng hình sự:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn Đ vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn bị cáo đã thể hiện ý kiến của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt; Bị hại anh Hồ Hữu K vắng mặt; Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo dời lịch xét xử cho anh K, đồng thời trong giai đoạn điều tra anh K đã có lời khai đầy đủ và đã thể hiện rõ ý kiến của mình. Do vậy việc vắng mặt của bị cáo Đ và bị hại tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 290, 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Đ và bị hại K.
- Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tâm N, Hà Văn Đ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 21/5/2023, tại nhà nghỉ V1 thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Tâm N đã trộm cắp của anh Hồ Hữu K chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 60F2-465.04, có trị giá 31.843.000 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Sau đó, N giao xe cho Hà Văn Đ, Hoàng Thanh L và Thang Phong V đi tiêu thụ tại phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị phát hiện xử lý.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Các bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phải biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo Đại dù đã có tiền án về tội “Cướp tài sản”, Đ biết rõ tài sản là do Như trộm cắp mà có nhưng vẫn giúp Như bán tài sản để lấy tiền công, hành vi của các bị cáo là phạm tội với lỗ cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Tâm N: Không có.
- Bị Cáo Hà Văn Đ: Ngày 25/02/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Tâm N: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo đã tự ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Bị Cáo Hà Văn Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
- Về xử lý vật chứng:
- 01 Xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 60F2-465.04, số máy 425882, số khung 406765, là tài sản của anh Hồ Hữu K, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho anh K là đúng theo quy định.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, số máy: MGL12LL/A, gắn sim số 0898704409 của Như và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, code P666888, sim số 0925936917 của Đại, là phương tiện sử dụng để liên lạc vào mục đích phạm tội.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 Prime của L và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo của V, do L và V đang bỏ trốn nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau là đúng theo quy định.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Hồ Hữu K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
- Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với Hoàng Thanh L và Thang Phong V sau khi tham gia gây án đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố bị can, truy nã L và V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo Đ là chưa tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên chưa phù hợp; về các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tâm N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Hà Văn Đ đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Tâm N là người trộm cắp tài sản; Hà Văn Đ là người giúp sức tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có. Như vậy vai trò của Như Trong vụ án lớn hơn của Đ nên cần xử phạt Như với hình phạt nặng hơn của Đ mới tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tâm N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tâm N 01 (một) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 26 tháng 02 năm 2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ 10 (mười) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, số máy: MGL12LL/A, gắn sim số 0898704409 của Như và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, code P666888, sim số 0925936917 của Đại, là phương tiện sử dụng để liên lạc vào mục đích phạm tội.
Các vật chứng này hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo Nguyễn Tâm N, Hà Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Tâm N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo Hà Văn Đ, bị hại anh Hồ Hữu K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Nhàn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | |||
| ||||
Bản án số 409/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 409/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tâm N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
