|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 409/2024/DS-PT Ngày 02 - 8 - 2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Đòi lại quyền sử dụng đất; Chia tài sản chung quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt;
Ông Nguyễn Tấn Tặng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 08 tháng 5, ngày 07 tháng 6, ngày 04 tháng 7 và ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2024/TLPT-DS ngày 31/01/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Đòi lại quyền sử dụng đất; Chia tài sản chung quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 85/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 187/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 03 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị N, sinh năm 1943;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Chị Phan Thị Bé T, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Số nhà D, lô A, KDC C, khóm H, phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Lê Thị Vân L – Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Bị đơn: Chị Phan Thị Bé C, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ liên hệ: Số A, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Trần Văn N1 – Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Thu N2, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Số nhà D, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
2. Lê Nhựt A, sinh năm 2008;
3. Lê Nhựt P, sinh năm 2012;
Cùng địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật của anh Lê Nhựt A, anh Lê Nhựt P: Chị Lê Thị Thúy K, sinh năm 1998;
Địa chỉ: Số nhà A, Hậu Giang, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Anh Lê Phú T1, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Văn P1, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
5. Ông Nguyễn Bá A1, sinh năm 1977;
Địa chỉ: E, ấp N, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp
6. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Thanh P2 – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H – Chức vụ: Phó trưởng Phòng Thẩm tra và Xác minh đơn.
Địa chỉ: Số C, QL C, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Bà Đặng Thị N, chị Phan Thị Bé C, bà Lê Thị Thu N2, anh Lê Phú T1, chị Lê Thị Thúy K là nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn bà Đặng Thị N và người đại diện hợp pháp chị Phan Thị Bé T trình bày:
Thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m², đất lúa. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 05/7/2019 cho hộ Lê Phú T1 có nguồn gốc là của gia đình chồng bà Đặng Thị N cho bà N và chồng là ông Lê Phú T2 sử dụng. Ngày 13/7/2020 bà N (thành viên hộ) lập văn bản thỏa thuận tặng cho anh Lê Phú T1 được đứng tên cá nhân và toàn quyền thực hiện quyền của người sử dụng đất. Theo đó, ngày 04/8/2020 Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Lê Phú T1. Việc bà N ký tên vào văn bản thỏa thuận trên là vì trước khi đi đến Phòng công chứng thì Lê Phú T1 nói là làm văn bản để tặng cho thửa đất cho Lê Nhựt A và Lê Nhựt P nhưng sau khi bà N ký văn bản rồi sau đó mới biết là để cho Lê Phú T1 đứng tên cá nhân. Tiếp theo đó, ngày 08/9/2020 anh Lê Phú T1 lập hợp đồng tặng cho chị Phan Thị Bé C toàn bộ thửa đất số 178. Vì vậy, ngày 21/9/2020 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác nhận chị B Chín được nhận tặng cho thửa đất nói trên.
Nay bà Đặng Thị N yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020 giữa bà Đặng Thị N với anh Lê Phú T1 đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/7/2019 cho hộ Lê Phú T1; Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/9/2020 giữa anh Lê Phú T1 với chị Phan Thị Bé C đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m². Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/8/2020 cho anh Lê Phú T1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C tặng cho chị Phan Thị Bé C ngày 21/9/2020; Đồng thời bà Đặng Thị N yêu cầu được chia tài sản chung của hộ diện tích đất 2.313m² gồm các mốc 9-12-13-14-15-5-6-7-8-9 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 27/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thuộc một phần thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m², đất lúa cho bà Đặng Thị N được quyền sử dụng. Theo đó yêu cầu điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/8/2020 cho anh Lê Phú T1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C tặng cho chị Phan Thị Bé C ngày 21/9/2020.
Bà Đặng Thị N không đồng ý trả toàn bộ thửa đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² theo yêu cầu phản tố của chị Phan Thị Bé C.
- Bị đơn chị Phan Thị Bé C trình bày:
Thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m², đất lúa. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 05/7/2019 cho hộ anh Lê Phú T1 có nguồn gốc là của cha chồng là ông Lê Phú T2 cho chồng chị Lê Phú T1 sử dụng. Ngày 13/7/2020 bà N (thành viên hộ) lập văn bản thỏa thuận tặng cho anh Lê Phú T1 được đứng tên cá nhân và toàn quyền được sử dụng thửa đất. Theo đó, ngày 04/8/2020 Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Lê Phú T1. Ngày 08/9/2020 anh Lê Phú T1 lập hợp đồng tặng cho chị Phan Thị Bé C toàn bộ thửa đất 178. Vì vậy, ngày 21/9/2020 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác nhận cho chị được nhận tặng cho thửa đất nói trên. Việc anh T1 tặng cho đất cho chị là hợp pháp.
Vì vậy chị không đồng ý yêu cầu của bà Đặng Thị N.
Hiện tại bà N đã lấy thửa đất 178 canh tác và giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy chị yêu cầu bà N trả lại chị thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² theo đo đạc thực tế gồm các mốc 10-11-3-4-5-6-7-8-9-10 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 14/6/2023 của Chi nhánh văn phóng đăng ký đất đai huyện C và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên.
Chị C không đồng ý yêu cầu độc lập của bà Lê Thị Thu N2 và chị Lê Thị Thúy K.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thu N2 trình bày:
Bà N2 là con ruột của bà N và chị ruột của anh T1. Bà N2 ở chung với hộ anh T1, bà N từ nhỏ. Năm 1992 bà N2 có chồng và ở quê chồng từ năm 1992. Bà N2 được cha mẹ cho phần đất 8.000m² đất ruộng ở gần phần đất mà bà N đang tranh chấp với chị C. Năm 2007 bà N2 chuyển hộ khẩu về quê chồng ở xã P, huyện L. Bà N2 xác định theo xác nhận của Công an Huyện tại thời điểm hộ anh T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m², bà N2 là thành viên của hộ nhưng không có ký tên vào văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020 về việc để cho Lê Phú T1 đứng tên cá nhân thửa đất.
Nay bà Lê Thị Thu N2 yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020 giữa cụ Đặng Thị N với anh Lê Phú T1 đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/7/2019 cho hộ Lê Phú T1; Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/9/2020 giữa anh Lê Phú T1 với chị Phan Thị Bé C đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m². Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/8/2020 cho anh Lê Phú T1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C tặng cho chị Phan Thị Bé C ngày 21/9/2020; Đồng thời, bà Lê Thị Thu N2 yêu cầu được chia tài sản chung của hộ diện tích đất 2.313m² gồm các mốc 12-19-18-17-16-15-14-13-12, thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 27/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thuộc một phần thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m², đất lúa cho bà Lê Thị Thu N2 được quyền sử dụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thúy K trình bày:
Lê Nhựt A và Lê Nhựt P là con chung của chị K và anh T1. Chị K và anh T1 đã ly hôn năm 2016, Nhựt A, Phựt P3 do anh T1 nuôi dưỡng. Tại thời điểm hộ anh T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m², Nhựt A, Nhựt P là thành viên của hộ. Tuy nhiên, văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020 về việc để cho Lê Phú T1 đứng tên cá nhân thửa đất không có đầy đủ người đại diện hợp pháp ký tên.
Nay chị Lê Thị Thúy K là người đại diện theo pháp luật của Lê Nhựt A, Lê Nhựt P yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020 giữa bà Đặng Thị N với anh Lê Phú T1 đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 05/7/2019 cho hộ Lê Phú T1; Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/9/2020 giữa anh Lê Phú T1 với chị Phan Thị Bé C đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m². Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/8/2020 cho anh Lê Phú T1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C tặng cho chị Phan Thị Bé C ngày 21/9/2020; Đồng thời yêu cầu được chia tài sản chung của hộ cho Lê Nhựt A diện tích đất 2.313m² gồm các mốc 19-20-21-22-23-16-17-18-19 và Lê Nhựt P 2.313m² gồm các mốc 20-26-25-24-4-23-22-21-20, thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 27/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thuộc một phần thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m², cho Lê Nhựt A, Lê Nhựt P do chị Lê Thị Thúy K là người đại diện được quyền sử dụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Phú T1 và người đại diện hợp pháp ông Bùi Văn P1 trình bày:
Thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m², đất lúa. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 05/7/2019 cho hộ Lê Phú T1 có nguồn gốc là của cha anh T1 là ông Lê Phú T2 cho anh Lê Phú T1 sử dụng. Ngày 13/7/2020 bà N (thành viên hộ) lập văn bản thỏa thuận tặng cho Lê Phú T1 được đứng tên cá nhân và toàn quyền được sử dụng thửa đất. Theo đó, ngày 04/8/2020 Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Lê Phú T1. Ngày 08/9/2020 anh Lê Phú T1 lập hợp đồng tặng cho chị Phan Thị Bé C toàn bộ thửa đất 178. Việc bà N để anh T1 đứng tên cá nhân và anh T1 tặng cho thửa đất lại cho chị C là trên cơ sở tự nguyện và việc tặng cho là hợp pháp.
Nay anh T1 không đồng ý yêu cầu của bà N về việc yêu cầu vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (theo văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020) giữa bà Đặng Thị N và anh Lê Phú T1 và hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa anh Lê Phú T1 với chị Phan Thị Bé C ngày 08/9/2020 đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m². Không đồng ý chia tài sản chung quyền sử dụng đất cho cụ N. Không đồng ý yêu cầu độc lập của bà N2, vì bà N2 đã có hộ khẩu riêng trước khi hộ anh T1 được cấp quyền sử dụng đất. Không đồng ý yêu cầu của bà K đại diện cho Nhựt A, Nhựt P đòi chia tài sản chung, vì bà K đã ly hôn với anh T1 và anh T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng và là người đại diện đương nhiên cho Nhựt A và Nhựt P.
Trường hợp chấp nhận yêu cầu của bà N, bà N2, chị K thì diện tích đất còn lại anh T1 vẫn đồng ý để cho chị B C sử dụng. Anh T1 không tranh chấp hay yêu cầu gì đối với thửa đất 178.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá A1 trình bày:
Anh là người được thi hành án theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 86/2022/QĐCNHGT ngày 31/10/2022. Theo quyết định trên chị Bé C phải trả cho anh số tiền 1.800.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi anh làm đơn yêu cầu thi hành án thì Chi cục thi hành án Huyện đã ra quyết định thi hành án và sau đó có quyết định hoãn thi hành án do cụ N tranh chấp thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² của chị B Chín nên Chi cục Thi hành án không cưỡng chế thửa đất của chị C để thi hành án được.
Nay anh không có yêu cầu gì trong vụ án này, anh đề nghị Tòa án giải quyết sớm để xác định thửa đất tranh chấp là của ai, nếu là của chị C thì để Chi cục thi hành án Huyện thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 86/2022/QĐCNHGT ngày 31/10/2022 giữa anh và Bé C mà thôi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ trình bày:
Ngày 04/8/2020 Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² cho anh Lê Phú T1 trên cơ sở Văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020 giữa cụ N và anh T1. Ngày 08/9/2020 anh Lê Phú T1 lập hợp đồng tặng cho chị Phan Thị Bé C toàn bộ thửa đất 178. Vì vậy, ngày 21/9/2020 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác nhận cho chị B Chín được nhận tặng cho thửa đất nói trên. Việc cấp giấy nêu trên thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai.
Việc bà N yêu cầu hủy giấy chứng chận quyền sử dụng đất cấp cho chị Phan Thị Bé C thì đề nghị Tòa án trên cơ sở xác minh thông tin, tài liệu, chứng cứ đã được cung cấp xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp quyết định:
Căn cứ Điều 147; Điều 157; Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117; Điều 130; Điều 136 của Bộ luật dân sự; Khoản 29 Điều 3; Điều 166; Điều 167 của Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị N.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Phan Thị Bé C: Buộc cụ Đặng Thị N trả cho chị Phan Thị Bé C toàn bộ thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² theo đo đạc thực tế gồm các mốc 10-11-3-4-5-6-7-8-9-10 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 14/6/2023 của Chi nhánh văn phóng đăng ký đất đai huyện C và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/8/2020 cho anh Lê Phú T1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C tặng cho chị Phan Thị Bé C ngày 21/9/2020.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Lê Thị Thu N2.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của Lê Nhựt A, Lê Nhựt P - người đại diện theo pháp luật là chị Lê Thị Thúy K:
Tuyên bố vô hiệu một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (theo văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020) giữa cụ Đặng Thị N và anh Lê Phú T1; Hủy một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa anh Lê Phú T1 với chị Phan Thị Bé C ngày 08/9/2020.
Buộc chị Phan Thị Bé C có nghĩa vụ giao cho Lê Nhựt A – người đại diện theo pháp luật chị Lê Thị Thúy K diện tích đất 2.313m² gồm các mốc 9-12-13-14-15-5-6-7-8-9 và giao cho Lê Nhựt P – người đại diện theo pháp luật chị Lê Thị Thúy K diện tích đất 2.313m² gồm các mốc 12-19-18-17-16-15-14-13-12, thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 27/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thuộc một phần thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích cấp giấy 11.565m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/8/2020 cho anh Lê Phú T1 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C tặng cho chị Phan Thị Bé C ngày 21/9/2020.
(Đính kèm Sơ đồ đo đạc ngày 14/6/2023 và ngày 27/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
5. Về án phí:
Bà Đặng Thị N được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bà Đặng Thị N được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015417 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Lê Thị Thu N2 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005679 ngày 07/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (đã nộp xong).
Chị Phan Thị Bé C phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017486 ngày 20/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (đã nộp xong).
Chị Lê Thị Thúy K – người đại diện theo pháp luật của Lê Nhựt A và Lê Nhựt P phải nộp 46.680.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005680 ngày 07/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ, định giá tài sản và đo đạc: Bà Đặng Thị N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chổ, định giá tài sản và đo đạc số tiền 6.959.820 đồng đã nộp và chi xong.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án thì bà N, chị C, bà N2, anh T1, chị K có kháng cáo. Bà N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không đồng ý trả lại quyền sử dụng đất và đất cho chị Bé C, yêu cầu công nhận cho bà được sử dụng phần đất có diện tích 2.323m²; chị Bé C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy một phần Bản án sơ thẩm đối với phần yêu cầu độc lập của chị Thúy K yêu cầu chia đất cho Lê Nhựt A, Lê Nhựt P, giữ nguyên diện tích thửa đất cho chị sử dụng; bà Thu N2 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét công nhận cho bà được quyền sử dụng đối với diện tích 2.323m² (L) trong tổng diện tích 11.565m²; chị K là người đại diện theo pháp luật của Lê Nhựt A, L Pháp kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chia phần đất tranh chấp có diện tích 11.565m² cho ba thành viên cụ thể Lê Nhựt A được chia 3.855m², Lê Nhựt P được chia 3.855m² (L); anh T1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa một phần Bản án theo hướng không chấp nhận phần yêu cầu độc lập chia đất cho Lê Nhựt A, Lê Nhựt P, giữ nguyên diện tích thửa đất cho chị C sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt chị Bé T, Luật sư Vân L, chị Bé C, chị K, bà N2, ông P1, Luật sư N1. Các đương sự khẳng định đã cung cấp bổ sung thêm đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án.
Luật sư Vân L trình bày: Bà N đã cung cấp được nguồn gốc đất của ông bà để lại là di sản thờ cúng nên bà N đồng ý để anh T1 đại diện đăng ký quyền sử dụng đất. Hộ anh T1 do anh T1 đại diện đứng tên quyền sử dụng đất do bà N lớn tuổi. Khi phát hiện việc anh T1 tặng cho đất chị C nên đã giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phát sinh tranh chấp. Nay bà N yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi các con của ông T2, bà N. Bà N từ trước đến nay vẫn có yêu cầu hủy giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên cũng đề nghị xem xét lại thẩm quyền giải quyết vụ án.
Chị Bé T trình bày: Thống nhất phần trình bày của Luật sư Vân L và trình bày thêm là không có văn bản nào ông T2, các anh chị em của anh T1 đồng ý từ chối thừa kế, đồng ý tặng cho anh T1 đất tranh chấp.
Luật sư N1 trình bày: Vụ án được xác định là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận, không phát sinh quan hệ tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất. Căn cứ hợp đồng được công chứng, Ủy ban nhân dân cấp quyền sử dụng đất cho anh T1. Anh T1 tặng cho chị C theo quy định pháp luật được công nhận. Đối với Nhựt A, Nhựt P không đủ tuổi trong hộ gia đình nên không chấp nhận yêu cầu. Nếu có tranh chấp chia thừa kế tách ra thành vụ án khác.
Chị Bé C trình bày: Không bổ sung gì thêm, thống nhất theo lời trình bày của Luật sư N1.
Bà N2, chị K trình bày: Yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để chia đều cho các người con của ông T2, bà N.
Ông P1 trình bày: Ông T3, ông T4, ông K1 được cho mỗi người một phần đất. Ông T1, bà N đã đồng ý cho anh T1 một phần đất. Thửa đất 176, 178 anh T1 được cho lúc đó ông K1 đã chết cũng được cho một phần đất. Anh T1 đăng ký quyền sử dụng đất có bà N, anh T3, anh T4 ký tên. Anh T1 là con út trong gia đình sống chung với bà N. Năm 2017 chị C kết hôn về sống chung, năm 2019 đăng ký kết hôn. Việc anh T1 tặng cho đất là do chị C có nhiệm vụ chăm sóc lo cho gia đình và 02 đứa con của anh T1. Do bỏ chi phí ra sản xuất và lên đất vườn nên anh T1, chị C bị mất cân đối tài chính. Khi chị C bị kiện thì bà N phát sinh tranh chấp. Việc tặng cho đất thì bà N không có sự nhầm lẫn thể hiện qua hợp đồng tặng cho đất. Bà N xác định khởi kiện chỉ yêu cầu chia một phần trong diện tích được tặng cho là đúng ý chí nay thay đổi yêu cầu khởi kiện chia thừa kế là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, kháng cáo là không đúng theo quy định pháp luật. Đối với Nhựt A, Nhựt P thì anh T1 vẫn là người đại diện hợp pháp cho các cháu theo quy định pháp luật theo quyết định thuận tình li hôn của Tòa án. Việc anh T1 vắng mặt gia đình là do có mâu thuẫn với anh em. Đất cấp hộ gia đình do ông T2 không đăng ký quyền sử dụng đất; bà N tự nguyện cho anh T1 đất. Do đó đây là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, không còn việc thừa kế quyền sử dụng đất. Vì vậy đề nghị giữ nguyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa anh T1 và chị Bé C.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị do Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh và đưa những người con của ông T2 vào tham gia tố tụng nên vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Do đó đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những tiến hành tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa quyết định:
Các đương sự thì xác định: Thửa số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² có nguồn gốc là của ông Lê Phú T2 và bà Đặng Thị N.
Anh Lê Phú T1 ở chung với ông T2 và bà N và cùng sử dụng thửa đất nói trên. Năm 2015 ông T2 chết, bà N và anh T1 tiếp tục sử dụng.
Ngày 28/3/2019 anh T1 đại diện hộ đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/7/2019 cho hộ Lê Phú T1.
Qua xác minh hộ của anh Lê Phú T1 (theo Công văn số 422/CAH-QLHC, ngày 17/5/2023 của Công an huyện C) về việc xác định thành viên hộ gia đình đã ghi nhận: tại thời điểm ngày 05/7/2019 (thời điểm cấp quyền sử dụng đất thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² cho hộ Lê Phú T1) thì trong hộ có các thành viên gồm bà Đặng Thị N, Lê Phú K2, Lê Thị Thu N2, Lê Phú T1, Lê Nhựt A, Lê Nhựt P. Tuy nhiên, trên thực tế thì ông Lê Phú K2 đã chết vào năm 2001. Bà Lê Thị Thu N2 xác định đã có chồng từ năm 1992 và cắt hộ khẩu chuyển về quê chồng ở xã P, huyện L từ năm 2007.
Như vậy, hộ của Lê Phú T1 tại thời điểm cấp quyền sử dụng đất ngày 05/7/2019 được xác định có các thành viên gồm cụ Đặng Thị N, Lê Phú T1, Lê Nhựt A, Lê Nhựt P. Do đó, bà Lê Thị Thu N2 không phải là thành viên của hộ tại thời điểm hộ anh T1 được cấp quyền sử dụng đất thửa 178.
[2.2] Xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (theo văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020) giữa bà N và anh T1 đối với thửa đất 178: Văn bản thỏa thuận trên được cụ N và anh T1 cùng ký, được Phòng C2, tỉnh Đồng Tháp công chứng. Cụ N trình bày anh T1 yêu cầu cụ N ký để tặng cho đất cho Lê Nhựt A và Lê Nhựt P. Việc cụ N trình bày văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020 có sự lừa dối là không có cơ sở.
[2.3] Vì vậy, quyền sử dụng đất của bà N trong hộ, bà N đã tặng cho anh T1 là hợp pháp nên anh T1 tặng cho lại chị Bé C được anh T1 xác định là trên cơ sở tự nguyện nên công nhận phần quyền sử dụng đất của cụ N trong hộ anh T1 đã tặng cho cá nhân anh T1 là có hiệu lực.
Đối với yêu cầu độc lập của chị Lê Thị Thúy K thì thấy: Lê Nhựt A, Lê Nhựt P là thành viên của hộ anh T1 tại thời điểm được cấp quyền sử dụng thửa đất 178. Vì vậy, Lê Nhựt A, Lê Nhựt P có quyền sử dụng chung đối với thửa đất 178. Tại thời điểm lập văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020 giữa cụ N và anh T1, Nhự A2 và Nhựt P là thành viên của hộ nhưng chưa thành niên nên theo quy định pháp luật thì phải có người đại diện. Tại thời điểm này chị Lê Thị Thúy K và anh Lê Phú T1 là cha mẹ của Nhựt A, Nhựt P. Mặc dù anh T1, chị K đã ly hôn, anh T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng Nhựt A, Nhựt P nhưng chị K, anh T1 vẫn là người đại diện theo pháp luật của Nhựt A, Nhựt P. Theo đó, văn bản thỏa thuận ngày 13/7/2020 chỉ có anh T1 ký, chị K không ký là chưa phù hợp theo quy định tại Điều 136 của bộ luật dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhự A2, Nhựt P. Vì vậy, chị K yêu cầu tuyên bố chia tài sản chung của hộ cho Nhựt A, Nhựt P mỗi người diện tích đất 2.313m² là có căn cứ.
[3] Xét yêu cầu phản tố của chị Phan Thị Bé C: Thửa số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² anh T1 đã chuyển quyền cho chị B C là hợp pháp. Buộc cụ Đặng Thị N trả cho chị Phan Thị Bé C toàn bộ thửa đất số 178, tờ bản đồ 62, diện tích 11.565m² và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C tặng cho chị B Chín ngày 21/9/2020.
[4] Đồng thời căn cứ vào nội dung quyết định các đương sự phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm thì bà N, chị K, chị N2 kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm và bà N cung cấp thêm chứng cứ mới về nguồn gốc đất và những người thừa kế ông T2, bà N.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy ngoài nhận định Tòa án cấp sơ thẩm ra các đương sự cung cấp thêm chứng cứ. Đất có nguồn gốc của cụ Lê Văn C1. Ngày 12/12/1958, cụ Lê Văn C1 lập di chúc giao đất hương hỏa cho ông Lê Văn T5 (cha ông Lê Phú T2), trong nội dung di chúc có ghi làm đất hương hỏa, thờ cúng ông bà và “truyền tử lưu tôn”. Sau đó ông T5 cho lại ông Lê Phú T2, ông T2 được Tổng nha điền địa cấp chứng nhận cấp ruộng ngày 20/4/1964 đối với số địa bộ A3, Tờ thứ 7, Thửa E23, diện tích 2M32$46TV. Ông Lê Phú T2 chết ngày 02/6/2015 và vợ là bà Đặng Thị N chung sống với nhau có 08 người con chung là: Lê Trọng T6; Lê Thị Thu T7; Lê Phú K2; Lê Thị Thu N2; Lê Thị Thu T8; Lê Thị Thu X; Lê Phú T9; Lê Phú T1. Khi còn sống ông T2 đăng ký kê khai và được cấp diện tích đất gồm: Thửa 1588 diện tích 7.500m²; Thửa 2216, diện tích 10.051m² cùng TBĐ số 5, theo Giấy chứng nhận cấp ngày 29/8/2008 cho ông T2, bà N.
Ngoài ra đất ông T5 để lại còn có 2 thửa:
- Thửa 176, TBĐ số 62, diện tích 11.746m² Lê Phú T1 tự kê khai đăng ký vào năm 2014, hiện đã chuyển nhượng cho bà Thu X bằng hình thức cố đất và đang phát sinh tranh chấp.
- Thửa 178, TBĐ số 62, diện tích 11.565m² (thửa đất đang tranh chấp) Lê Phú T1 tự kê khai đăng ký vào năm 2019 và được cấp cho hộ Lê Phú T1.
Ngày 13/7/2020 hộ Lê Phú T1 gồm T1, bà N lập văn bản thỏa thuận tặng cho toàn bộ thửa đất cho cá nhân anh T1. Ngày 08/9/2020, anh T1 lập hợp đồng tặng cho QSD cho chị Bé C. Ngày 21/9/2020, chị Bé C được đứng tên quyền sử dụng đất (chỉnh lý trang 3). Do đó khi Tòa án giải quyết việc anh T1 tặng cho đất cho chị B C thì các anh chị em ruột anh T1 không biết. Theo các anh em anh T1 trình bày đều phụ giúp cha mẹ làm ruộng tranh chấp. Khi ông T2 chết vào năm 2015 thì thửa đất nêu trên vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa định đoạt tài sản này cho ai.
Ông T2 chết cũng không để lại di chúc nên đây là di sản thừa kế của ông Lê Phú T2 để lại. Nên các con bà N, ông T2 là Lê Trọng T6; Lê Thị Thu T7; Lê Thị Thu T8; Lê Thị Thu X; Lê Phú T9 yêu cầu tại phiên tòa phúc thẩm yêu cầu tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ Lê Phú T1. Yêu cầu chia thừa kế được hưởng di sản do ông Lê Phú T2 để lại theo điều 623, 650, 651 Bộ luật Dân sự là đúng theo quy định pháp luật và yêu cầu này cần được giải quyết.
Đồng thời lời khai ban ban đầu anh T1 trình bày được Tòa án lấy lời khai ngày 09/3/2023: Đất anh sử dụng chi phí anh T1 và bà N đều bỏ ra canh tác; việc anh cho đất chị C không cho bà N biết vì nghĩ anh T1 và chị C đều như nhau, ai đứng tên quyền sử dụng đất cũng giữ tài sản chung gia đình. Do vợ chồng anh đi làm nên giao giấy chứng nhận cho bà N giữ, việc giao giấy chứng nhận này là tự nguyện. Anh T1 chỉ không đồng ý việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại biên bản hòa giải ngày 08/3/2021 tại tổ hòa giải ấp T: bà N tranh chấp và trình bày: Việc bà giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà N chuyển tên cho anh T1, để sau này để lại hai đứa cháu nội là Nhựt A, Nhựt P. Nếu sau này vợ chồng anh T1 có nhu cầu thì hỏi bà N, bà N sẵn sàng giúp cho con làm ăn. Ý kiến anh T1, chị C: Đồng ý theo ý kiến bà N cất giữ giấy chứng nhận nhưng không được đưa cho ai hoặc gửi ai ngoài tôi.
Như vậy cũng cần xác minh làm rõ nội dung biên bản này để không chấp nhận yêu cầu của bà N về việc không có tặng cho đất anh T1.
Do tài sản đất tranh chấp ông T2 chết để lại Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết thiếu tư cách của các người con của ông T2, bà N tham gia vụ án; đất ông T2 chết để lại chưa giải quyết chia thừa kế đất tranh chấp. Do vi phạm về việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên cần phải hủy bản án sơ thẩm để giao cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng trình tự quy định pháp luật.
[6] Từ những nhận định trên xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hủy bản án sơ thẩm là đúng theo quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng trình tự quy định pháp luật.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên bà Đặng Thị N là nguyên đơn, chị Phan Thị Bé C là bị đơn, bà Lê Thị Thu N2, anh Lê Phú T1, chị Lê Thị Thúy K (Chị K đại diện theo pháp luật cho Lê Nhựt A, Lê Nhựt P) không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 85/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí khác (nếu có) sẽ được xác định lại khi vụ án được tiếp tục giải quyết.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- - Bà Đặng Thị N được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bà Lê Thị Thu N2 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002086 ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- - Chị Phan Thị Bé C được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002091 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- - Chị Lê Thị Thúy K – người đại diện theo pháp luật của Lê Nhựt A và Lê Nhựt P phải được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002085 ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- - Anh Lê Phú T1 được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002092 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
Bản án số 409/2024/DS-PT ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; đòi lại quyền sử dụng đất; chia tài sản chung quyền sử dụng đất
- Số bản án: 409/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Đòi lại quyền sử dụng đất; Chia tài sản chung quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Đặng Thị Năm BĐ: Phan Thị Bé Chín
